Thực tế cho thấy, một số nhóm ngành đang đối mặt với tình trạng thiếu người học trong nhiều năm qua. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 2021 đến nay, số thí sinh nhập học các ngành nông lâm nghiệp, thủy sản và thú y chỉ chiếm khoảng 1,3–2% tổng số thí sinh trúng tuyển đại học [1].
Ngành nông, lâm, thủy sản khó tuyển sinh do nhận thức xã hội và mô hình đào tạo chưa theo kịp thực tiễn
Là một trong những cơ sở đào tạo trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho rằng, việc các ngành nông, lâm, thủy sản gặp khó khăn trong tuyển sinh thời gian gần đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ nhận thức xã hội, thông tin về cơ hội nghề nghiệp cho đến mô hình đào tạo.
Theo thầy, trong suy nghĩ của không ít học sinh và phụ huynh, các ngành nông nghiệp vẫn gắn với hình ảnh lao động vất vả, thu nhập chưa cao. Trong khi đó, những lĩnh vực như kinh tế, công nghệ thông tin hay marketing thường được đánh giá có môi trường làm việc hiện đại và cơ hội nghề nghiệp rộng mở hơn, nên thu hút nhiều thí sinh lựa chọn.
Đồng thời, thông tin về nhu cầu nhân lực và cơ hội việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp chưa được truyền thông rộng rãi, khiến nhiều học sinh chưa nhận thấy hết tiềm năng phát triển của ngành. Thực tế, nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và phát triển bền vững, mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp mới.
Ngoài yếu tố nhận thức xã hội, mô hình đào tạo tại một số cơ sở giáo dục đại học cũng chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Chương trình học còn nặng lý thuyết, trong khi sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và hoạt động sản xuất chưa thực sự chặt chẽ, khiến người học chưa thấy rõ triển vọng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Trước thực tế đó, những năm gần đây, nhiều cơ sở đào tạo đã bắt đầu đổi mới chương trình theo hướng ứng dụng và gắn với công nghệ. Cụ thể, các chương trình đào tạo được tích hợp thêm những nội dung như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, tự động hóa. Đồng thời bổ sung kiến thức về quản lý chuỗi giá trị nông sản, nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn.
Cùng với việc đổi mới chương trình đào tạo, phương thức tuyển sinh cũng được đa dạng hóa, kết hợp giữa xét kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, xét học bạ và các kỳ thi đánh giá năng lực. Các trường đồng thời tăng cường hoạt động tư vấn tuyển sinh, tổ chức hội thảo, truyền thông trên nền tảng số và hợp tác với doanh nghiệp nhằm giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ hơn về nông nghiệp hiện đại.
Trong khi đó, theo quan điểm của Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Marketing Việt Nam (VMA), Việt Nam dù là quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp nhưng hiện đang trong quá trình chuyển đổi từ “nông nghiệp sản lượng” sang “nông nghiệp giá trị cao”. Đây là giai đoạn chuyển đổi quan trọng, vì vậy nhận thức của xã hội về lĩnh vực này vẫn còn độ trễ nhất định.
Theo thầy Lý, nông nghiệp hiện nay không còn đơn thuần là trồng trọt hay chăn nuôi mà đã phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp số với sự ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Do đó, nếu các cơ sở đào tạo không kịp thời cập nhật chương trình, tích hợp các yếu tố công nghệ, quản trị và thị trường vào nội dung giảng dạy thì sẽ khó thu hút người học.
Tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường xác định định hướng đào tạo theo chuỗi giá trị và gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Theo đó, chương trình đào tạo được cập nhật theo hướng tích hợp công nghệ số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Đồng thời tăng cường hoạt động thực hành, thực tập tại doanh nghiệp và các trang trại công nghệ cao.
Nhà trường cũng mở rộng hợp tác với nhiều doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước để triển khai đào tạo theo nhu cầu thực tế, phát triển các chương trình chất lượng cao, chương trình tiên tiến và hợp tác quốc tế.
Tiến sĩ Trần Đình Lý cho biết, thực tế nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, thực phẩm và xuất khẩu hiện rất lớn. Nhiều doanh nghiệp, tập đoàn đã chủ động cấp học bổng, tài trợ phòng thí nghiệm, thậm chí đặt hàng đào tạo và tuyển dụng sinh viên ngay từ năm thứ ba hoặc năm thứ tư.
Vì vậy, nếu nhìn đúng xu hướng thị trường, đây là nhóm ngành có cơ hội việc làm rộng mở và tiềm năng thu nhập tốt, đặc biệt đối với sinh viên có năng lực ngoại ngữ và kỹ năng công nghệ.
Sắp xếp ngành đào tạo cần dựa trên vai trò chiến lược và nhu cầu nhân lực dài hạn
Văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB của Bộ Giáo dục và Đào tạo về định hướng sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập nêu rõ: những ngành, lĩnh vực đào tạo không thiết yếu, nhiều năm không tuyển sinh được hoặc không còn nhu cầu xã hội sẽ được xem xét đưa vào diện sắp xếp, tổ chức lại.
Nhiều chuyên gia cho rằng việc đánh giá hiệu quả của một ngành học, đặc biệt là các ngành khoa học cơ bản cần được nhìn nhận toàn diện và trong tầm nhìn dài hạn, thay vì chỉ dựa vào số lượng tuyển sinh từng năm.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang cho rằng, các ngành khoa học cơ bản có vai trò nền tảng đối với sự phát triển của khoa học – công nghệ cũng như nhiều ngành kinh tế khác. Những lĩnh vực như sinh học, hóa học, toán học hay các ngành nền tảng trong nông – lâm nghiệp có thể chưa thu hút nhiều thí sinh trong ngắn hạn, nhưng lại giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức mới, đào tạo đội ngũ nghiên cứu và tạo nền tảng cho các ngành ứng dụng sau này.
Vì vậy, nếu chỉ dựa vào số lượng tuyển sinh để đánh giá hiệu quả đào tạo có thể dẫn đến cách nhìn ngắn hạn, bỏ qua giá trị chiến lược của các ngành này.
Theo thầy Cang, hiệu quả của một ngành học cần được xem xét trên nhiều khía cạnh như chất lượng đào tạo, đóng góp cho nghiên cứu khoa học, cũng như khả năng phục vụ nhu cầu phát triển lâu dài của đất nước. Trên thực tế, có những ngành dù quy mô đào tạo không lớn nhưng lại cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các viện nghiên cứu, trung tâm khoa học hoặc các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Đây là những giá trị khó thể hiện ngay bằng con số tuyển sinh nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững.
Đối với những ngành đang gặp khó khăn trong tuyển sinh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang cho rằng thay vì chỉ xem xét thu hẹp hoặc sắp xếp lại, các cơ sở đào tạo cần chủ động đổi mới chương trình theo hướng tăng tính liên ngành, gắn với nhu cầu thực tiễn và đẩy mạnh truyền thông về vai trò của ngành học. Theo thầy, số lượng tuyển sinh chỉ nên được xem là một chỉ báo tham khảo, không phải là tiêu chí duy nhất để quyết định việc sắp xếp hay duy trì một ngành đào tạo. Việc đánh giá cần đặt trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực dài hạn của quốc gia.
Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng và sức hấp dẫn của các ngành nông, lâm, thủy sản, cần có sự cải tiến đồng bộ từ phía cơ sở đào tạo và sự hỗ trợ từ Nhà nước.
Cụ thể, các cơ sở đào tạo cần đổi mới chương trình theo hướng gắn với nông nghiệp hiện đại, tăng cường ứng dụng các công nghệ mới như nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp số, công nghệ sinh học và quản lý chuỗi giá trị nông sản. Đồng thời, cần đẩy mạnh đào tạo thực hành, tăng cường liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và các mô hình sản xuất để sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tiễn và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.
Việc phát triển đội ngũ giảng viên, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ cũng là những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Về phía Nhà nước, cần có các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn như cấp học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ việc làm sau tốt nghiệp hoặc các chương trình thu hút nhân lực chất lượng cao làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp.
“Khi hoạt động đào tạo được gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và có chính sách hỗ trợ phù hợp, các ngành nông, lâm, thủy sản sẽ dần trở nên hấp dẫn hơn đối với người học, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp hiện đại”, thầy Cang khẳng định.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Trần Đình Lý cũng cho rằng không nên đánh giá hiệu quả của một ngành học chỉ dựa vào số lượng tuyển sinh trong ngắn hạn, bởi có những ngành tuy khó tuyển trong một vài năm nhưng lại giữ vai trò chiến lược lâu dài đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia như an ninh lương thực, ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên môi trường hay bảo tồn đa dạng sinh học.
Do đó, nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu tuyển sinh để quyết định duy trì hay cắt giảm ngành đào tạo có thể dẫn đến những rủi ro về mặt chiến lược.
“Việc sắp xếp, tổ chức lại các ngành đào tạo cần được xem xét trên nhiều tiêu chí, bao gồm vai trò chiến lược của ngành đối với sự phát triển quốc gia, nhu cầu nhân lực trong trung và dài hạn, chất lượng đào tạo và hiệu quả đầu ra, cũng như mức độ gắn kết giữa đào tạo với doanh nghiệp và hoạt động nghiên cứu ứng dụng”, Tiến sĩ Trần Đình Lý nhấn mạnh.
Tuy nhiên, thầy Lý cũng cho rằng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng những ngành nhiều năm không đổi mới, không gắn với nhu cầu xã hội hoặc không cải tiến chương trình đào tạo thì việc tái cấu trúc là cần thiết. Điều quan trọng là đổi mới để phát triển, chứ không phải thu hẹp một cách cơ học.
Để nâng cao chất lượng và sức hấp dẫn của các ngành nông, lâm, thủy sản, theo Tiến sĩ Trần Đình Lý, cần có sự thay đổi đồng bộ từ phía cơ sở đào tạo và chính sách của Nhà nước.
Ở góc độ các cơ sở đào tạo, chương trình học cần được đổi mới theo hướng liên ngành, tích hợp công nghệ số, quản trị và kiến thức thị trường. Đồng thời tăng cường hoạt động thực hành, thực tập và các học kỳ doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, đồng thiết kế chương trình đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ cũng là những giải pháp quan trọng. Công tác truyền thông về ngành học cũng cần được chú trọng nhằm xây dựng hình ảnh nông nghiệp hiện đại, đổi mới và nhiều tiềm năng phát triển.
Về phía Nhà nước, cần có các chính sách hỗ trợ như cấp học bổng, tín dụng ưu đãi cho sinh viên theo học các ngành nông, lâm, thủy sản. Đầu tư trọng điểm cho những lĩnh vực chiến lược gắn với an ninh lương thực và thích ứng biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, việc đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực cho các vùng trọng điểm nông nghiệp và xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào hoạt động đào tạo, nghiên cứu cũng được xem là giải pháp cần thiết.
Tài liệu tham khảo:
[1]: https://baodongnai.com.vn/xa-hoi/202412/khat-lao-dong-nganh-nong-lam-thuy-san-thu-y-d7b49c4/