Tiến sĩ ra doanh nghiệp là phù hợp thông lệ quốc tế nhưng cần rõ tiền lương do đơn vị nào chi trả?

13/02/2026 06:20
Thanh Trà
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Chủ trương đưa tiến sĩ ra ngoài làm việc của ĐHQG TP.HCM nhận được nhiều sự ủng hộ, trường thành viên sẵn sàng triển khai khi có kế hoạch cụ thể.

Tại buổi gặp gỡ các nhà khoa học trẻ và chuyên gia đầu ngành trong khuôn khổ chương trình VNU350, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết đơn vị đang định hướng để các tiến sĩ định kỳ sau mỗi 5 năm công tác sẽ dành một năm làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, nhằm tăng cường gắn kết với thực tiễn thị trường.

Thông tin này nhận được sự quan tâm và đồng tình từ nhiều nhà giáo, nhà khoa học. Theo các giảng viên, đây là bước đi phù hợp với xu thế quốc tế, góp phần tạo động lực đổi mới chuyên môn, tăng cường kết nối giữa nhà trường và thực tiễn sản xuất - kinh doanh, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Tạo động lực học thuật và nâng chuẩn chuyên môn

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng chủ trương để các tiến sĩ sau mỗi 5 năm công tác có một năm làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp nước ngoài là một định hướng tích cực, phù hợp với xu thế quốc tế.

Theo thầy Thơ, tại nhiều đại học lớn trên thế giới, mô hình này đã tồn tại từ lâu dưới hình thức Sabbatical Leave - kỳ nghỉ dài hạn cho phép người lao động tạm thời ngừng công việc để nghiên cứu hoặc nghỉ ngơi. Trong thời gian đó, giảng viên có thể tạm rời công việc giảng dạy thường nhật để tập trung nghiên cứu, hợp tác học thuật hoặc làm việc tại một tổ chức khác nhằm nâng cao chuyên môn. Điểm đáng chú ý là ở nhiều quốc gia, giảng viên vẫn được hưởng lương từ trường trong thời gian này, với điều kiện phải trình bày kế hoạch rõ ràng về mục tiêu và nơi đến.

564610943-1118739437112707-5430776365566795808-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: HCMUT

“Hoạt động này ở các quốc gia khác không phải là điều mới. Về bản chất, đó là cơ hội để giảng viên bước ra khỏi môi trường quen thuộc, tiếp cận sự phát triển học thuật của thế giới và nâng cao năng lực chuyên môn. Việc có một khoảng thời gian tập trung cho nghiên cứu hoặc trải nghiệm thực tiễn giúp giảng viên làm mới tư duy, cập nhật xu hướng công nghệ và mở rộng mạng lưới hợp tác.

Đối với những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao như Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, sự thay đổi của thế giới diễn ra rất nhanh. Nếu chỉ quanh quẩn trong không gian học thuật nội bộ, nguy cơ tụt hậu là có thật", thầy Thơ nhận định.

Chủ trương này cũng được đánh giá là phù hợp với đội ngũ tiến sĩ thuộc chương trình thu hút nhân tài VNU350. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ, phần lớn các giảng viên trong nhóm này được đào tạo ở nước ngoài, có nền tảng học thuật tốt và quen với môi trường nghiên cứu năng động. Nếu không tạo điều kiện để họ tiếp tục phát triển, rất dễ khiến họ cảm thấy môi trường trong nước thiếu cơ hội cọ xát và bứt phá.

“Không nên để các thầy cô cảm thấy khi về Việt Nam thì môi trường khoa học chậm lại. Việc triển khai hình thức tương tự Sabbatical Leave vào thời điểm này là cần thiết, đặc biệt với đội ngũ VNU350.

Ở một khía cạnh khác, chủ trương này cũng tạo động lực cho các tiến sĩ nói chung phấn đấu. Để được cử đi tu nghiệp hoặc làm việc tại một viện nghiên cứu, trường đại học hay bộ phận R&D của doanh nghiệp, bản thân giảng viên phải xây dựng được kế hoạch rõ ràng và chứng minh được năng lực chuyên môn. Điều đó góp phần hình thành văn hóa cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy chất lượng nghiên cứu trong nội bộ trường", phó giáo sư nhấn mạnh.

Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thành An - Giám đốc Viện Toán học và các Khoa học Tính toán, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết thầy hoàn toàn ủng hộ chủ trương của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về việc để các tiến sĩ định kỳ ra doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài.

Thầy An chia sẻ: "Định hướng này gồm hai nội dung rõ ràng: tham gia làm việc tại doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty khoa học - công nghệ, và tu nghiệp tại các trung tâm nghiên cứu quốc tế. Cả hai hướng đi đều mang lại lợi ích thiết thực cho đội ngũ giảng viên và nhà khoa học.

Trên thực tế, ngay cả trước khi có chủ trương chính thức, các nhà khoa học cũng thường chủ động kết nối với doanh nghiệp công nghệ cao để tìm hiểu những vướng mắc trong thực tiễn, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu và giải quyết bài toán cụ thể.

Đồng thời, sau khi bảo vệ tiến sĩ, nhiều người cũng mong muốn ra nước ngoài nghiên cứu nâng cao, nhưng phần lớn phải tự tìm học bổng hoặc tự túc kinh phí. Nay Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã có chủ trương rõ ràng và còn hỗ trợ kinh phí thì các nhà khoa học lại càng phấn khởi”.

Thầy An nhấn mạnh thêm, việc ra doanh nghiệp giúp các nhà khoa học nắm bắt thách thức công nghệ thực tế, còn tu nghiệp ở nước ngoài là cơ hội nâng cao chuyên môn, phát triển lý thuyết và tiệm cận trình độ quốc tế. Đây là bước đi cần thiết để nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo.

Tiến sĩ Lê Hoài Long - Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng chủ trương để các tiến sĩ sau mỗi 5 năm công tác có một năm ra doanh nghiệp hoặc tu nghiệp, nghiên cứu ở nước ngoài là một định hướng tích cực, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục đại học.

Theo thầy Long, lợi ích rõ ràng nhất là giúp giảng viên cập nhật đặc điểm mới của ngành nghề và tiếp cận những tiến bộ khoa học - công nghệ đang thay đổi nhanh chóng từng ngày. Trong các lĩnh vực kỹ thuật, sự chuyển biến về vật liệu, công nghệ thi công, chuyển đổi số hay các tiêu chuẩn quốc tế diễn ra liên tục. Nếu chỉ làm việc trong môi trường quen thuộc quá lâu, giảng viên dễ bị giới hạn trong khung kiến thức cũ.

image.png
Tiến sĩ Lê Hoài Long - Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật xây dựng, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Thầy Long cho biết, khi còn học tập tại Hàn Quốc, thầy từng chứng kiến mô hình tương tự. Tại đó, nhiều giáo sư sau khoảng 5 năm làm việc có thể xin nghỉ một năm để ra nước ngoài nghiên cứu hoặc hợp tác học thuật. Đây là cơ chế phổ biến nhằm tạo điều kiện để giảng viên “làm mới” tư duy, mở rộng quan hệ quốc tế và nâng cao năng lực chuyên môn.

Trong bối cảnh hiện nay, việc mở rộng lựa chọn có thể ra doanh nghiệp trong nước hoặc tu nghiệp, nghiên cứu trao đổi ở nước ngoài là hợp thời và linh hoạt. Không nhất thiết mọi người đều phải đi doanh nghiệp, điều quan trọng là tạo cơ hội để giảng viên bước ra khỏi môi trường quen thuộc trong một khoảng thời gian đủ dài, qua đó “bật nguồn” lại năng lượng và cập nhật tri thức mới.

Cần đối nguồn lực và có lộ trình để đảm bảo hoạt động đào tạo trong trường

Dù bày tỏ sự ủng hộ, Tiến sĩ Lê Hoài Long cũng cho rằng việc triển khai cần được tính toán thận trọng, đặc biệt về nhân sự và cơ chế pháp lý. Với những ngành có tính hàn lâm cao hoặc nguồn nhân lực còn mỏng, nếu áp dụng đồng loạt quy định “cứ đủ 5 năm là đi” thì nguy cơ thiếu hụt giảng viên là rất lớn. Ở cấp khoa, số lượng tiến sĩ không quá dồi dào, nếu trong cùng một thời điểm nhiều người cùng rời vị trí, hoạt động giảng dạy và đào tạo sinh viên sẽ bị ảnh hưởng.

“Đây mới là thông tin ban đầu. Khi triển khai, chắc chắn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có kế hoạch cụ thể hơn chứ nếu áp dụng đồng loạt thì nhân sự của khoa có thể đi gần hết. Một vấn đề khác là cơ chế trả lương và quy định đối với viên chức. Nếu tiến sĩ ra làm việc tại doanh nghiệp, tiền lương sẽ do đơn vị nào chi trả? Việc này liên quan trực tiếp đến Luật viên chức và các quy định quản lý nhân sự hiện hành. Để thực hiện được, cần có quy trình và quy định cụ thể, rõ ràng ngay từ đầu", thầy Long bộc bạch.

Đặc biệt, với các tiến sĩ đang giữ vị trí quản lý, việc tham gia chương trình có thể gặp nhiều khó khăn hơn. Ở cấp khoa, viên chức quản lý phải phụ trách vận hành chương trình đào tạo, kiểm định chất lượng và nhiều công việc hành chính khác. Nếu vắng mặt một năm, việc bố trí người thay thế không hề đơn giản.

Bên cạnh đó, thầy cho rằng cần cân nhắc yếu tố độ tuổi khi triển khai. Có thể ưu tiên tiến sĩ trẻ trước, bởi họ còn nhiều năm công tác phía trước và có điều kiện phát huy hiệu quả sau khi trở về. Với những giảng viên sắp đến tuổi nghỉ hưu, nếu đi tu nghiệp một năm rồi chỉ làm việc thêm vài năm nữa thì hiệu quả đầu tư có thể không cao.

Tóm lại, theo Tiến sĩ Lê Hoài Long, chủ trương này là bước đi tích cực và đáng ủng hộ. Tuy nhiên, để đi vào thực chất, cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng, có lộ trình triển khai phù hợp với từng đơn vị và ưu tiên hợp lý theo độ tuổi, vị trí công tác. Khi được chuẩn bị kỹ lưỡng, đây sẽ là cơ hội tốt để đội ngũ giảng viên nâng cao năng lực và tiếp cận những xu hướng mới của ngành.

80072646.jpg
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có đội ngũ tiến sĩ có năng lực nghiên cứu khoa học cao. Ảnh minh hoạ: HCMUT

Về phía Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ, thầy cũng cho rằng việc triển khai tại Việt Nam không thể áp dụng một cách đại trà như ở các nước phát triển, do còn nhiều ràng buộc về pháp lý và nguồn lực.

Theo thầy, không phải cứ đủ 5 năm là tất cả giảng viên đều có thể đồng loạt ra ngoài làm việc một năm. Hoạt động giảng dạy và vận hành của nhà trường phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giảng viên hiện hữu. Nếu quá nhiều người cùng lúc vắng mặt, việc tổ chức đào tạo sẽ gặp khó khăn.

“Trường phải cân nhắc theo nguồn lực thực tế. Nếu dồn một lúc quá nhiều người xin nghỉ thì không thể được, phải giải quyết cho một số ít người đi trong từng giai đoạn. Với những trường có bề dày lịch sử như Trường Đại học Bách khoa, nhiều giảng viên đã công tác hàng chục năm. Nếu áp dụng cơ chế mới trong bối cảnh trước đây chưa từng có hình thức tương tự, số lượng người đủ điều kiện và mong muốn tham gia trong năm đầu tiên có thể rất lớn. Khi đó, việc sàng lọc, ưu tiên và xây dựng lộ trình hợp lý là điều bắt buộc”, thầy nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, mỗi giảng viên khi tham gia cần có kế hoạch cụ thể: đi đâu, làm gì, hợp tác với đơn vị nào, mục tiêu nghiên cứu ra sao. Nếu tu nghiệp ở nước ngoài, phải có cơ sở tiếp nhận chính thức; nếu làm việc tại doanh nghiệp, đó nên là môi trường có hoạt động nghiên cứu - phát triển phù hợp với chuyên môn. Điều này nhằm đảm bảo quãng thời gian tạm rời trường mang lại giá trị thực chất, không chỉ mang tính hình thức.

Ở chiều ngược lại, nhà trường cũng phải chuẩn bị nguồn lực thay thế để đảm bảo chất lượng giảng dạy không bị ảnh hưởng. Việc phân bổ giảng viên cần được tính toán kỹ lưỡng theo từng khoa, từng bộ môn. Trong một đơn vị, có thể mỗi năm chỉ nên cử một số ít người, theo lộ trình luân phiên.

Thầy Thơ cho rằng, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khi đưa ra định hướng chắc chắn sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết, có thứ tự ưu tiên và tiêu chí cụ thể. Trong giai đoạn đầu, có thể tập trung vào nhóm giảng viên VNU350 - những người có năng lực, kinh nghiệm quốc tế và có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Tuy nhiên, chính sách này cũng đi kèm áp lực nhất định. Bởi các tiến sĩ phải chứng minh được hiệu quả công việc của mình trong giai đoạn trước và sau khi ra ngoài làm việc.

Tóm lại, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ, việc triển khai hình thức tương tự Sabbatical Leave tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là bước đi tích cực và cần thiết trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, để chủ trương phát huy hiệu quả, các trường thành viên sẽ chờ đợi kế hoạch cụ thể của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Khi được tổ chức bài bản, đây sẽ là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thanh Trà