ĐBQH, chuyên gia đánh giá NQ 57 tạo nền tảng nâng cao cạnh tranh bằng tri thức, công nghệ & dữ liệu

06/07/2026 06:30
Thi Thi
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Sau 1,5 năm triển khai, Nghị quyết 57 đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức, hoàn thiện thể chế và thực tiễn triển khai.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt, động lực phát triển mới. Nhiều ý kiến đánh giá, sau hơn 1,5 năm triển khai, nhiều chuyển biến tích cực đã được ghi nhận từ nhận thức đến hành động, từ hoàn thiện thể chế đến thúc đẩy chuyển đổi số trên nhiều lĩnh vực. Đây mới là bước khởi đầu nhưng có ý nghĩa nền tảng, mở ra cơ hội để đất nước nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và từng bước khẳng định vị thế trong kỷ nguyên số.

Cơ sở giáo dục đại học phải trở thành "bộ não" tạo ra năng lực cạnh tranh dài hạn

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho rằng, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW là một quyết sách có ý nghĩa chiến lược rất lớn, thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh quyết liệt bằng tri thức, công nghệ và dữ liệu. Sau khoảng một năm rưỡi triển khai, nghị quyết đã tạo ra nhiều chuyển biến rõ nét về nhận thức, thể chế và thực tiễn, đặt nền móng cho mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.

Theo đại biểu, nếu trước đây thể chế, hạ tầng và nhân lực được xác định là ba đột phá chiến lược thì nay khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là "động cơ tăng tốc", góp phần kích hoạt và nâng tầm cả ba đột phá này.

Đại biểu Việt Nga phân tích, chuyển biến dễ nhận thấy nhất sau thời gian triển khai Nghị quyết 57 là sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức. Nếu trước đây ở nhiều nơi, khoa học và công nghệ vẫn được nhìn nhận như một lĩnh vực chuyên biệt, mang tính hỗ trợ thì hiện nay tư duy đó đã thay đổi căn bản. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý nhà nước đến doanh nghiệp và các trường đại học, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là trụ cột phát triển, là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là sự thay đổi rất quan trọng, bởi mọi cuộc cải cách lớn đều bắt đầu từ thay đổi tư duy.

Bên cạnh đó, hệ thống thể chế cũng đang có những bước chuyển tích cực. Một loạt cơ chế, chính sách được rà soát, sửa đổi theo hướng tháo gỡ rào cản cho nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Quốc hội, Chính phủ cùng các bộ, ngành đã thúc đẩy hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Đây là những nền móng cực kỳ quan trọng, bởi nếu không có thể chế thông thoáng thì rất khó tạo ra hệ sinh thái sáng tạo thực chất.

Ở góc độ thực tiễn, Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực bước đầu. Hạ tầng số quốc gia tiếp tục được đầu tư; cơ sở dữ liệu quốc gia ngày càng được kết nối đồng bộ; dịch vụ công trực tuyến phát triển mạnh; nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, trong giáo dục đại học, tinh thần đổi mới sáng tạo được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu, hợp tác với doanh nghiệp và thương mại hóa các sản phẩm khoa học.

"Những kết quả này có ý nghĩa nền tảng rất lớn bởi muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên mà phải chuyển sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết 57 chính là bước chuẩn bị quan trọng cho quá trình chuyển đổi đó", đại biểu nhấn mạnh.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng bày tỏ sự đồng tình với quan điểm cho rằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định vị thế phát triển của các quốc gia. Thực tế thế giới cho thấy những quốc gia bứt phá nhanh nhất không phải là những nước giàu tài nguyên nhất mà là những quốc gia làm chủ tri thức và công nghệ tốt nhất.

Trong bối cảnh đó, đại biểu cho rằng, vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trở nên đặc biệt quan trọng. Theo đó, cơ sở giáo dục đại học ngày nay không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực mà phải trở thành trung tâm sáng tạo tri thức, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Nếu coi quốc gia là một cơ thể phát triển, thì đại học chính là "bộ não" tạo ra năng lực cạnh tranh dài hạn.

322e65996b12e44cbd03.jpg
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng. Ảnh: NVCC.

Đại biểu nêu rõ sứ mệnh của các trường đại học trong thực hiện Nghị quyết 57 thể hiện ở ba phương diện.

Một là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng mới đều cần lực lượng nhân sự trình độ cao. Đại học phải đi trước một bước trong thiết kế chương trình đào tạo, cập nhật tri thức mới, hình thành năng lực thích ứng cho người học.

Hai là nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Một quốc gia mạnh về công nghệ không thể thiếu các đại học nghiên cứu mạnh. Chúng ta phải từng bước xây dựng các đại học tinh hoa, trung tâm xuất sắc, như định hướng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh. Đây không chỉ là câu chuyện của ngành giáo dục, mà là chiến lược quốc gia.

Ba là kết nối hệ sinh thái. Cơ sở giáo dục đại học phải trở thành cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường. Kết quả nghiên cứu không thể chỉ nằm trên giá sách hay trong các bài báo khoa học, mà phải trở thành sản phẩm, giải pháp, công nghệ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa.

Tuy nhiên, theo đại biểu, muốn đại học thực hiện được sứ mệnh đó thì bản thân các trường cũng cần được trao quyền tự chủ thực chất hơn, nhất là tự chủ tài chính, tự chủ học thuật và tự chủ nhân sự. Đồng thời, cơ chế đánh giá cũng phải chuyển từ nặng về hình thức sang trọng tâm là chất lượng đầu ra và tác động thực tiễn.

Theo Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, thu hút, giữ chân và phát huy đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia và nhân tài là yếu tố cốt lõi quyết định thành công của Nghị quyết 57. Bởi theo bà, công nghệ có thể mua, thiết bị có thể nhập nhưng con người phải được nuôi dưỡng và tích lũy trong thời gian dài.

Về vấn đề thu hút, giữ chân và phát huy đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, nhân tài, đại biểu cho rằng đây là yếu tố cốt lõi quyết định thành bại của Nghị quyết 57. Công nghệ có thể mua, thiết bị có thể nhập, nhưng con người thì phải nuôi dưỡng và tích lũy lâu dài.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề xuất bốn nhóm giải pháp lớn.

Thứ nhất là xây dựng cơ chế đãi ngộ đủ sức cạnh tranh. Theo bà, cần thay đổi tư duy, coi đầu tư cho nhân tài là đầu tư cho phát triển chứ không phải là chi phí. Thu nhập, điều kiện nghiên cứu và môi trường làm việc phải đủ tốt để các nhà khoa học yên tâm cống hiến.

Thứ hai là trao quyền nhiều hơn cho các nhà khoa học và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Bà cho rằng, nghiên cứu khoa học luôn tồn tại khả năng thất bại, vì vậy nếu cơ chế quản lý quá chặt chẽ, nặng về thủ tục và tâm lý e ngại trách nhiệm thì rất khó tạo ra những đột phá.

Thứ ba là xây dựng môi trường học thuật minh bạch, công bằng và tôn trọng sáng tạo. Theo đại biểu, nhiều người giỏi rời đi không phải vì thu nhập mà vì thiếu môi trường để phát huy năng lực.

Thứ tư là xây dựng chính sách đủ hấp dẫn đối với đội ngũ chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài cũng như các chuyên gia quốc tế. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa tri thức, Việt Nam không nên giới hạn nguồn lực trong phạm vi biên giới quốc gia.

Theo Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, khi Nghị quyết 57 được triển khai hiệu quả, Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế quan trọng như tăng mạnh năng suất lao động, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng cường năng lực tự chủ chiến lược trong các lĩnh vực công nghệ lõi, dữ liệu và an ninh số; hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh để doanh nghiệp Việt phát triển bằng tri thức; đồng thời nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Đại biểu nhấn mạnh, trong kỷ nguyên mới, vị thế của một quốc gia không chỉ được đo bằng GDP mà còn bằng năng lực sáng tạo và trình độ công nghệ.

"Nghị quyết 57 không phải chỉ là câu chuyện của ngành khoa học hay ngành giáo dục, mà là chiến lược phát triển quốc gia mang tính tổng thể. Thành công của Nghị quyết đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà trường, nhà khoa học và toàn xã hội", đại biểu khẳng định.

Theo đại biểu, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội tạo ra bước chuyển mang tính lịch sử nếu có một tầm nhìn đủ lớn, quyết tâm đủ mạnh và cơ chế đủ mở. Khi đó, đất nước không chỉ bắt kịp mà ở một số lĩnh vực còn có thể vươn lên cùng các quốc gia tiên phong trong kỷ nguyên tri thức.

Các trường đại học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hiện thực hóa Nghị quyếT 57

Cùng trao đổi, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng nhìn nhận, điểm nổi bật nhất là sự thay đổi trong tư duy về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó mở ra nền tảng cho sự phát triển của đất nước.

Đại biểu phân tích, nếu trước đây khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thường được xem là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học hoặc công nghệ thông tin, thì hiện nay nhận thức này đã có sự thay đổi rõ rệt. Ngày càng có sự thống nhất rằng đây là động lực phát triển của toàn bộ nền kinh tế, là yếu tố quyết định năng suất, năng lực cạnh tranh cũng như chất lượng tăng trưởng của quốc gia.

Song song với chuyển biến về nhận thức, hệ thống thể chế cũng đang từng bước được hoàn thiện theo hướng tháo gỡ các điểm nghẽn trong đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển dữ liệu, chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng chương trình hành động, bố trí nguồn lực và xác định các nhiệm vụ trọng tâm thay vì chờ đợi hướng dẫn chi tiết như trước.

Ở góc độ thực tiễn, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong quản trị nhà nước, giáo dục, y tế, doanh nghiệp và đời sống xã hội. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu từng bước được ứng dụng vào hoạt động quản lý, sản xuất và cung cấp dịch vụ công, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành và chất lượng phục vụ người dân.

Theo đại biểu, điều quan trọng nhất là những kết quả bước đầu này đang tạo nền móng cho một mô hình phát triển mới của Việt Nam. Nếu trong nhiều thập niên trước, tăng trưởng chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư thì trong giai đoạn tới, động lực tăng trưởng cần chuyển sang tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây chính là ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết 57.

trinh-thi-tu-anh-1396.jpg
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: NVCC.

Đề cập đến vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trong triển khai Nghị quyết 57, Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh nhấn mạnh các trường đại học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hiện thực hóa Nghị quyết.

"Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây là nơi sản sinh tri thức mới và chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế. Nếu doanh nghiệp là nơi thương mại hóa công nghệ thì trường đại học chính là nơi tạo ra công nghệ.

Vì vậy, các trường đại học Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình chủ yếu truyền thụ kiến thức sang mô hình đại học nghiên cứu, đại học đổi mới sáng tạo, gắn chặt với doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của địa phương.

Đồng thời, cần thay đổi phương thức đào tạo để sinh viên không chỉ học kiến thức chuyên môn mà còn hình thành tư duy số, năng lực nghiên cứu, kỹ năng đổi mới sáng tạo, khả năng học tập suốt đời và thích ứng với những biến đổi rất nhanh của công nghệ. Một trường đại học mạnh không chỉ được đo bằng số lượng sinh viên tốt nghiệp mà còn bằng số công trình nghiên cứu được ứng dụng, số doanh nghiệp khởi nghiệp được hình thành, số bằng sáng chế được thương mại hóa và mức độ đóng góp vào sự phát triển của địa phương cũng như quốc gia", đại biểu nhấn mạnh.

Đối với bài toán thu hút và phát huy đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, nhân tài trong và ngoài nước, Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng điều quan trọng nhất là phải tạo được môi trường để nhân tài phát huy năng lực.

Theo đại biểu, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy các nhà khoa học không chỉ quan tâm đến thu nhập mà còn đặc biệt coi trọng quyền tự chủ trong nghiên cứu, cơ chế tài chính linh hoạt, điều kiện làm việc, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, cơ hội hợp tác quốc tế cũng như khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Vì vậy, chúng ta cần chuyển từ tư duy "quản lý nhân tài" sang tư duy "trao cơ hội cho nhân tài". Nhà khoa học cần được đánh giá chủ yếu bằng kết quả nghiên cứu và giá trị tạo ra, thay vì quá nặng về thủ tục hành chính hay hình thức.

Đối với chuyên gia và trí thức Việt Nam ở nước ngoài, cần có những chính sách đủ hấp dẫn để họ có thể tham gia bằng nhiều hình thức khác nhau, không nhất thiết phải trở về làm việc lâu dài. Trong bối cảnh kết nối số hiện nay, một nhà khoa học có thể tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn hoặc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam từ bất kỳ quốc gia nào nếu chúng ta có cơ chế phù hợp.

"Nếu Nghị quyết 57 được triển khai hiệu quả, lợi thế lớn nhất của Việt Nam sẽ không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chúng ta sẽ từng bước chuyển từ nền kinh tế gia công sang nền kinh tế sáng tạo; từ việc chủ yếu tiếp nhận công nghệ sang từng bước làm chủ và tạo ra công nghệ; từ lợi thế lao động chi phí thấp sang lợi thế về chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo.

Đó mới là nền tảng bền vững để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao trong kỷ nguyên mới", đại biểu kỳ vọng.

Đầu tư cho khoa học và công nghệ thực chất là đầu tư cho tương lai

Theo Tiến sĩ Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội đoàn thành phố Hà Nội khóa XV, Nghị quyết 57 đã tạo ra những chuyển biến tích cực cả về nhận thức, hành động và cách thức tổ chức thực hiện ở nhiều cấp, nhiều ngành. Điều đáng ghi nhận nhất là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được xem là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà đã trở thành yêu cầu xuyên suốt trong quá trình hoạch định chính sách, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.

image-6.jpg
Tiến sĩ Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội đoàn thành phố Hà Nội (khóa XV). Ảnh: Thi Thi.

Tiến sĩ Cừ cho rằng, thời gian qua, từ Trung ương đến địa phương đều thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết 57. Nhiều chương trình, kế hoạch hành động đã được ban hành với tinh thần chủ động, linh hoạt, nhiều địa phương mạnh dạn bố trí nguồn lực cho chuyển đổi số, đầu tư hạ tầng số, phát triển dữ liệu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy Nghị quyết đã từng bước đi vào cuộc sống.

Theo ông, ngày nay, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ hỗ trợ phát triển mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Việt Nam muốn phát triển nhanh, bền vững và tránh nguy cơ tụt hậu thì phải lựa chọn con đường phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy, Nghị quyết 57 được xem là một định hướng mang tính chiến lược, tạo nền tảng để đất nước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại hơn.

Tiến sĩ Trương Xuân Cừ cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ trí thức trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết. Theo ông: "Các cơ sở giáo dục đại học cần phát huy tốt hơn chức năng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đây chính là mắt xích quan trọng để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi tri thức được chuyển hóa thành năng suất, sản phẩm và giá trị kinh tế".

Bên cạnh đó, Tiến sĩ Cừ cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia và nhân tài yên tâm cống hiến. Theo ông, đầu tư cho khoa học và công nghệ thực chất là đầu tư cho tương lai, vì vậy cần có cơ chế sử dụng nguồn lực linh hoạt hơn, tăng quyền tự chủ cho các đơn vị nghiên cứu, tạo môi trường làm việc thuận lợi và cơ chế đánh giá dựa trên hiệu quả, giá trị của các sản phẩm khoa học. Đồng thời, cần có chính sách thu hút hiệu quả trí thức người Việt Nam ở nước ngoài cũng như chuyên gia quốc tế tham gia các chương trình nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

Thi Thi