Trưởng phòng Đào tạo Học viện Quân Y là Giáo sư ngành Y học năm 2020

03/01/2021 06:44 Phạm Minh
GDVN- Thượng tá Giáo sư Nguyễn Duy Bắc đã hoàn thành 13 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Quốc gia, cấp Bộ; có đến 155 bài báo khoa học và được cấp 1 bằng sáng chế.

Thượng tá Nguyễn Duy Bắc là một trong 8 ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư ngành Y học năm 2020.

Giáo sư Nguyễn Duy Bắc sinh năm 1976, quê ở xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, hiện là Trưởng phòng Đào tạo Học viện Quân y.

Năm 19 tuổi, ông lựa chọn theo học ngành Y, trở thành Học viên y khoa hệ đại học chính quy của Học viện Quân y.

Năm 2002, Giáo sư Nguyễn Duy Bắc là bác sĩ nội trú, công tác tại Học viện Quân Y. Ba năm sau, Thượng tá Nguyễn Duy Bắc là bác sỹ thực tế đơn vị tại Sư 316, Quân khu 2.

Sau 1 năm công tác tại Sư 316, Quân khu 2, năm 2006, ông trở lại Học viện Quân y với vai trò là bác sỹ, giảng viên Bộ môn Giải phẫu.

Từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 7 năm 2018, Giáo sư thực hiện công tác giảng dạy, quản lý tại trường với chức vụ Phó trưởng phòng Đào tạo, giảng viên Bộ môn Giải phẫu của Học viện Quân y.

Từ năm 2018 đến nay, ông là Trưởng phòng Đào tạo, giảng viên Bộ môn Giải phẫu tại Học viện Quân y.

Năm 26 tuổi, Giáo sư Nguyễn Duy Bắc được nhận bằng Đại học ngành Y, chuyên ngành Bác sĩ đa khoa. Năm 2006, ông được Học viện Quân y cấp bằng Thạc sĩ ngành Y, chuyên ngành Giải phẫu người.

Năm 2010, ông tiếp tục nhận bằng Tiến sĩ ngành Y, chuyên ngành Giải phẫu người của Học viện Quân y.

Tháng 11/2013, Thượng tá Nguyễn Duy Bắc được công nhận chức danh Phó giáo sư ngành Y học.

Sau 13 năm tham gia đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ đại học trở lên, ông được chính thức công nhận là Giáo sư ngành Y học.

Thượng tá Nguyễn Duy Bắc -Trưởng phòng Đào tạo, giảng viên Bộ môn Giải phẫu tại Học viện Quân y là Giáo sư ngành Y học năm 2020 (Ảnh: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh)

Thượng tá Giáo sư Nguyễn Duy Bắc tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học với 4 hướng nghiên cứu chính.

Thứ nhất là nghiên cứu đặc điểm hình thái, cấu trúc vi thể của một số cơ quan, tổ chức. Bao gồm: hình thái đầu mặt, đặc điểm giải phẫu tim, đặc điểm cấu trúc vi thể hải mã, biến đổi hóa mô miễn dịch ở một số bệnh lý như sinh non, tiền sản giật...

Thứ hai là nghiên cứu ứng dụng công nghệ gen trong chẩn đoán và xác định cá thể: phân tích trình tự của một số gen như vùng D-Loop của gen ty thể, nghiên cứu xác định cá thể bằng các locus STR, nghiên cứu gen liên quan bệnh Azheimer (ApoE, APP) và ung thư đại trực tràng, ứng dụng microarray trong đánh giá mức độ biểu hiệu của gen, nghiên cứu chẩn đoán trước virut Rubella kỹ thuật RT-PCR, chẩn đoán nhiễm nấm và sán gây bệnh bằng kỹ thuật PCR, chẩn đoán trước sinh rối loạn nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật QF-PCR, sàng lọc và chẩn đoán trước chuyển phôi..

Thứ ba là nghiên cứu các công nghệ, quy trình chiết xuất và bào chế một số thuốc và thực phẩm chức năng từ dược liệu Việt Nam; đánh giá tác dụng dược lý của chế phẩm sinh học trên động vật thực và trên người tình nguyện: công nghệ chiết xuất siêu tới hạn dầu vừng đen và lycopen từ cà chua, chế phẩm từ lộc nhung và đông trùng hạ thảo....

Thứ tư là nghiên cứu về một số vấn đề có tính thời sự của y tế công cộng: vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng của chất da cam/dioxin đến sức khỏe con người.

Kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học của Giáo sư Nguyễn Duy Bắc là những thành tựu đáng ghi nhận.

Thượng tá đã hướng dẫn 3 Nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, hướng dẫn 6 Học viên cao học, Bác sĩ nội trú bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ.

Giáo sư cũng đã hoàn thành 13 đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Quốc gia, cấp Bộ; đã công bố 155 bài báo Khoa học, trong đó 19 bài báo Khoa học trên tạp chí quốc tế có uy tín.

Thượng tá Nguyễn Duy Bắc là chủ biên, tác giả của 16 cuốn sách phục vụ đào tạo từ trình độ đại học trở lên. Ngoài ra, ông cũng đã được cấp 01 sáng chế, giải pháp hữu ích.

Giáo sư Nguyễn Duy Bắc là một người thầy say mê, tận tụy với sự nghiệp giáo dục, hết lòng với người học, luôn đảm bảo chất lượng đào tạo.

Ông cũng luôn tích cực nghiên cứu, đổi mới xây dựng dựng chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra, đanh giá, góp nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học.

Giáo sư cũng có nhiều đề xuất và triển khai nhiều hướng nghiên cứu mới, có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao vị trí của Học viện Quân y về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Một số cuốn sách phục vụ đào tạo từ trình độ Đại học trở lên do Thượng tá Giáo sư Nguyễn Duy Bắc biên soạn:

1. Giải phẫu ứng dụng mạch, thần kinh, khớp chi trên-chi dưới (Nhà xuât bản Quân đội Nhân dân)

2. Ghép tim thực nghiệm (Nhà xuất bản Y học)

3. Từ điển bách khoa y học Việt Nam (Tiểu ban hình thái) (Nhà xuất bản Y học)

4. Các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh sỏi tiết niệu (Nhà xuất bản Y học)

5. Sinh học đại cương (Nhà xuât bản Quân đội Nhân dân)

6. Thực hành sinh học (Nhà xuât bản Quân đội Nhân dân)

7. Virus Rubella: Chẩn đoán và chẩn đoán trước sinh (Nhà xuât bản Quân đội Nhân dân)

8. Dịch tễ học, yếu tố nguy cơ, dự phòng và điều trị đẻ non (Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật)

9. Sổ tay cấp cứu đầu tiên (Nhà xuât bản Quân đội Nhân dân)

10. Ứng dụng sinh học phân tử trong sàng lọc và chẩn đoán trước sinh (Nhà xuât bản Quân đội Nhân dân)

Một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã nghiệm thu do Thượng tá Giáo sư Nguyễn Duy Bắc thực hiện:

1. Nghiên cứu đánh giá thực trạng sức khỏe của quân nhân đang sinh sống tại vùng nóng ô nhiễm bởi chất độc hóa học/dioxin

2. Nghiên cứu biến đổi não bộ và một số gen chọn lọc trên bệnh nhân Alzheimer và động vật thực nghiệm

3. Xác định một số yếu tố nguy cơ của bệnh sỏi đường tiết niệu qua nghiên cứu bệnh chứng

4. Khảo sát một số biến đổi gen ở bệnh nhân tự kỷ ở Việt Nam Thuộc đề tài Nghị định thư với Nhật Bản: hợp tác nghiên cứu thay đổi hành vi, di truyền, và yếu tố nguy cơ trong bệnh tự kỷ

5. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới trong sàng lọc trước sinh không xâm lấn.

Một số bài báo khoa học, báo cáo khoa học đã công bố của Thượng tá Giáo sư Nguyễn Duy Bắc:

1. So sánh hình thái hình thái thể lực của sinh viên mới nhập trường năm 1991 và năm 2002, thử đề xuất tiêu chuẩn về mặt thể lực cho tuyển sinh đại học (Tạp chí Y dược học Quân sự)

2. Phân tích trình tự gen mã hoá cytochrome bty thể ở một số cá thể người Việt Nam (Tạp chí Y dược học Quân sự)

3. Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu tim lợn, những tương đồng và khác biệt giữa tim người và tim lợn; ứng dụng trong ghép tim thực nghiệm (Tạp chí Y dược học Quân sự)

4. Hoàn thiện kỹ thuật tách chiết ADN và phân tích trình tự đoạn điều khiển (D -loop) từ mẫu tóc, ứng dụng trong điều tra hình sự (Tạp chí Y dược học Quân sự)

5. Đánh giá thực trạng cơ cấu bệnh tật của quân nhân đang sinh sống tại vùng nóng ô nhiễm chất độc hóa học (Tạp chí Độc học)

6. Nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc màng ối thành tế bào gan (Tạp chí sinh lý Việt Nam)

7. QF -PCR in the prenatal and postnatal detection of common chromosome aneuploidies (Revue Médicale)

8. Ứng dụng kỹ thuật chuỗi polymerase (PCR) phát hiện nấm candida spp. gây bệnh ở người (Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng).

Phạm Minh