Là phó hiệu trưởng trường THCS, tôi thấy môn tích hợp KHTN còn nhiều rối rắm, phức tạp

30/03/2026 08:57
Thanh Minh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Đối với môn Khoa học tự nhiên sau thời gian triển khai đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, chất lượng chưa được như kỳ vọng.

Ở cấp trung học cơ sở có 2 môn tích hợp chuyên môn là môn Lịch sử và Địa lý (tích hợp môn Lịch sử, Địa lý) và môn Khoa học tự nhiên (tích hợp môn Vật lý, Hóa học, Sinh học). Trong khi môn Lịch sử và Địa lý ít vướng mắc do nó có 2 phân môn riêng biệt, chỉ vướng mắc ở việc 2 môn cùng chung cột điểm, đánh giá,…

Còn đối với môn Khoa học tự nhiên sau thời gian triển khai đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc.

Là một phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn tại trường trung học cơ sở, tôi đã trực tiếp tham gia triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới với nhiều kỳ vọng đổi mới. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, đặc biệt với môn tích hợp Khoa học tự nhiên, tôi nhận thấy thực tiễn đang bộc lộ không ít bất cập.

Từ việc phân công giáo viên, sắp xếp thời khóa biểu đến tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá đều nảy sinh những khó khăn chưa có lời giải phù hợp. Những vấn đề này không chỉ gây áp lực cho nhà trường và giáo viên mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của học sinh.

tich-hop-6483-6710.jpg
Ảnh minh họa

Môn Khoa học tự nhiên gây nhiều khó khăn trong công tác phân công, sắp xếp thời khóa biểu

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở được thiết kế theo hướng tích hợp ba phân môn: Vật lí, Hóa học và Sinh học. Về lý thuyết, đây là một bước tiến nhằm giúp học sinh tiếp cận tri thức khoa học theo hướng liên ngành, tránh sự chia cắt cứng nhắc giữa các lĩnh vực. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn tổ chức dạy học tại nhà trường, chính sự tích hợp này lại trở thành “bài toán khó” đối với công tác quản lý chuyên môn.

Trước hết là vấn đề phân công giáo viên. Đội ngũ giáo viên hiện nay được đào tạo theo đơn môn, tức là mỗi người chỉ chuyên sâu một lĩnh vực. Khi triển khai môn tích hợp, nhà trường buộc phải ghép các giáo viên lại với nhau để cùng giảng dạy một môn học. Điều này dẫn đến tình trạng một môn học có thể có 2 hoặc 3 giáo viên phụ trách cùng một môn trong cùng một năm học. Việc phân công như vậy không chỉ phức tạp mà còn dễ phát sinh những bất cập về trách nhiệm, phối hợp và đánh giá.

Khó khăn thứ hai, và cũng là vấn đề khiến ban giám hiệu “đau đầu” nhất, chính là sắp xếp thời khóa biểu. Nếu dạy theo hướng mỗi phân môn do một giáo viên đảm nhiệm, thì thời khóa biểu không còn mang tính ổn định như trước đây. Trong thực tế, có những tuần nhà trường phải điều chỉnh thời khóa biểu đến 2-3 lần để phù hợp với tiến độ dạy học của từng phân môn. Ví dụ, khi giáo viên Vật lí kết thúc nội dung sớm hơn dự kiến, cần chuyển sang Hóa học, thì toàn bộ lịch học phải điều chỉnh để phù hợp với lịch dạy của giáo viên Hóa.

Việc thay đổi thời khóa biểu liên tục không chỉ gây áp lực cho bộ phận quản lý mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến giáo viên và học sinh. Giáo viên gặp khó khăn trong việc chuẩn bị bài giảng, đặc biệt là khi lịch dạy bị xáo trộn. Học sinh thì bị “rối” lịch học, khó theo dõi và sắp xếp thời gian tự học.

Bên cạnh đó, phần mềm xếp thời khóa biểu hiện nay chưa được thiết kế tối ưu cho mô hình dạy học tích hợp kiểu này. Nhiều trường vẫn phải thực hiện thủ công, điều chỉnh bằng tay, dẫn đến sai sót và mất nhiều thời gian.

Một vấn đề nữa là sự không đồng đều về khối lượng công việc giữa các giáo viên. Có giáo viên bị dồn tiết trong một số thời điểm, trong khi thời điểm khác lại “trống” nhiều tiết. Điều này gây mất cân đối trong phân công lao động và ảnh hưởng đến tâm lý giáo viên.

Từ góc độ quản lý, có thể nói rằng môn Khoa học tự nhiên tích hợp đang đặt ra một thách thức rất lớn cho công tác tổ chức dạy học trong nhà trường.

Dấu hỏi lớn về các cách triển khai và chất lượng môn Khoa học tự nhiên

Trước thực tế khó khăn, các trường trung học cơ sở hiện nay đang linh hoạt áp dụng nhiều phương án tổ chức dạy học môn Khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, điều đáng nói là mỗi phương án đều tồn tại những bất cập riêng, chưa có mô hình nào thực sự hiệu quả.

Cả 3 cách dạy hiện nay như dạy song song, dạy theo chủ đề hay một giáo viên dạy cả 3 phân môn đều gặp rất nhiều vướng mắc, không có giải pháp nào phù hợp, kiểu nào học sinh cũng gặp thiệt thòi và khó khăn trong tiếp thu kiến thức.

Kiểu thứ nhất: Dạy song song theo phân môn. Đây là cách phổ biến nhất hiện nay. Theo đó, giáo viên nào phụ trách phân môn nào sẽ dạy phần nội dung tương ứng trong chương trình. Ví dụ, giáo viên Vật lí dạy các chủ đề liên quan đến Vật lí, giáo viên Hóa học dạy phần Hóa học, và tương tự với Sinh học.

Ưu điểm lớn nhất của cách làm này là đảm bảo giáo viên được dạy đúng chuyên môn của mình. Nhờ đó, chất lượng bài giảng về mặt kiến thức có thể được đảm bảo hơn so với việc dạy trái môn.

Tuy nhiên, nhược điểm lại rất rõ ràng. Thứ nhất là vấn đề kiểm tra, đánh giá. Khi một học sinh được học bởi 2-3 giáo viên trong cùng một môn, việc đánh giá trở nên phức tạp. Ai sẽ là người chịu trách nhiệm chính? Cách cho điểm có đồng nhất hay không? Việc tổng hợp điểm liệu có đảm bảo công bằng?

Thứ hai, học sinh gặp khó khăn trong việc nhận diện năng lực của bản thân. Khi các phân môn được “trộn” trong một môn học chung, nhiều em không biết mình mạnh ở Vật lí, Hóa học hay Sinh học. Điều này ảnh hưởng đến định hướng học tập lâu dài.

Ngoài ra, như đã đề cập, việc dạy song song khiến thời khóa biểu phải điều chỉnh liên tục, gây xáo trộn trong toàn trường.

Kiểu thứ hai: Dạy cuốn chiếu từng chủ đề. Một số trường lựa chọn phương án dạy cuốn chiếu, tức là dạy hết một chủ đề của phân môn này rồi chuyển sang phân môn khác. Ví dụ, dạy xong toàn bộ phần Sinh học trong một khoảng thời gian, sau đó chuyển sang Hóa học, rồi đến Vật lí.

Cách làm này giúp thời khóa biểu ổn định hơn, vì mỗi giai đoạn chỉ có một giáo viên phụ trách. Tuy nhiên, nó lại tạo ra áp lực lớn về số tiết dạy.

Trong thực tế, có những giáo viên phải dạy từ 30 đến 40 tiết mỗi tuần khi đến “giai đoạn” của mình. Đây là con số vượt xa quy định, dẫn đến tình trạng quá tải. Giáo viên không có đủ thời gian để chuẩn bị bài, chấm bài, và hỗ trợ học sinh.

Học sinh học xong 1 phân môn này sẽ chuyển sang phân môn khác dẫn đến không còn nhớ kiến thức phân môn cũ, dẫn đến kiến thức rời rạc, thiếu liên kết, liên thông. Ví dụ, ở lớp 6 đầu năm học sinh học phân môn Hóa học vài tuần sau đó bỏ hẳn đến năm lớp 7 mới học lại phân môn Hóa học, có nhiều học sinh không còn nhớ gì về kiến thức cũ.

Hệ quả là chất lượng giảng dạy bị ảnh hưởng. Bài giảng trở nên vội vàng, thiếu chiều sâu. Học sinh cũng khó tiếp thu khi phải học dồn dập một lượng kiến thức lớn trong thời gian ngắn.

Kiểu thứ ba: Một giáo viên dạy toàn bộ môn tích hợp. Đây là phương án vẫn được một số trường áp dụng trong điều kiện thiếu giáo viên. Theo đó, một giáo viên sẽ dạy toàn bộ nội dung của môn Khoa học tự nhiên, bao gồm cả ba phân môn.

Ưu điểm duy nhất của cách này là đơn giản trong tổ chức: không cần phối hợp nhiều giáo viên, thời khóa biểu ổn định, việc kiểm tra đánh giá cũng dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, nhược điểm là rất lớn. Giáo viên bị quá tải về kiến thức, đặc biệt khi phải dạy những nội dung không thuộc chuyên môn của mình. Với thực tế đa số giáo viên đang giảng dạy ở cấp trung học cơ sở không được đào tạo theo hướng tích hợp thì khó có thể kỳ vọng một giáo viên được đào tạo chuyên sâu về Sinh học có thể giảng dạy tốt Vật lí và Hóa học ở mức độ tương đương. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của học sinh.

Trăn trở khi nhiều nơi học sinh ít chọn các môn tự nhiên khi chọn môn ở lớp 10, thi tốt nghiệp trung học phổ thông

Dù áp dụng phương án nào, thực tế cho thấy chất lượng dạy và học môn Khoa học tự nhiên hiện nay chưa đạt được như kỳ vọng ban đầu. Điều này có thể ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh với các môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Trước hết là sự suy giảm hứng thú học tập đối với các môn khoa học tự nhiên. Khi việc học trở nên rời rạc, thiếu hệ thống hoặc quá tải, học sinh dễ mất động lực. Nhiều em cảm thấy “sợ” các môn này vì không theo kịp hoặc không hiểu sâu.

Một hệ lụy khác là học sinh không nhận diện được năng lực của bản thân. Khi học một môn tích hợp mà không có sự phân tách rõ ràng, các em không biết mình mạnh hay yếu ở lĩnh vực nào. Điều này gây khó khăn trong việc lựa chọn tổ hợp môn học ở bậc học tiếp theo.

Ngoài ra, việc thiếu nền tảng kiến thức khoa học tự nhiên còn ảnh hưởng đến khả năng tư duy logic, phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi trong giáo dục hiện đại.

Về lâu dài, điều này có thể tác động đến nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật – những lĩnh vực đang rất cần nhân lực chất lượng cao.

Mong có giải pháp phù hợp

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng việc triển khai môn Khoa học tự nhiên tích hợp đang cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc và thực tế hơn.

Theo quan điểm của tôi, một hướng đi phù hợp là vẫn giữ tên gọi môn Khoa học tự nhiên nhưng có ba phân môn Vật lí, Hóa học và Sinh học. Các phân môn có điểm thành phần riêng, do giáo viên có chuyên môn giảng dạy, nhận xét riêng.

Vẫn giữ định hướng tích hợp Khoa học tự nhiên nhưng môn Khoa học tự nhiên có 3 phân môn riêng biệt sẽ giải quyết cơ bản những bất cập, vướng mắc của môn Khoa học tự nhiên hiện nay. Nó giúp:

Phân công chuyên môn rõ ràng: Mỗi giáo viên dạy đúng chuyên môn của mình, đảm bảo chất lượng kiến thức.

Thời khóa biểu ổn định: Không còn tình trạng thay đổi liên tục, giúp giáo viên và học sinh chủ động hơn.

Kiểm tra, đánh giá riêng biệt: Mỗi phân môn có hệ thống đánh giá riêng, giúp phản ánh chính xác năng lực của học sinh, để học sinh chọn đúng môn ở cấp trung học phổ thông, tiến tới định hướng nghề nghiệp phù hợp.

Định hướng học tập rõ ràng: Học sinh dễ dàng nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của mình để có lựa chọn phù hợp.

Ngoài ra, cần có hướng dẫn cụ thể, thống nhất từ cơ quan quản lý về cách tổ chức dạy học và đánh giá môn tích hợp. Tránh tình trạng mỗi trường làm một kiểu, gây thiếu đồng bộ và khó khăn trong quản lý.

Môn Khoa học tự nhiên tích hợp là một chủ trương có ý nghĩa trong việc đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại các trường trung học cơ sở cho thấy còn nhiều bất cập cần được điều chỉnh.

Hy vọng rằng trong thời gian tới, sẽ có những điều chỉnh kịp thời, cụ thể hơn để môn Khoa học tự nhiên giảng dạy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Thanh Minh