Trong bối cảnh “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu”, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để cộng đồng trí thức Việt Nam trên toàn thế giới thực sự trở thành một nguồn lực chiến lược, đồng hành hiệu quả với sự phát triển khoa học và công nghệ trong nước.
Cơ hội đóng góp không chỉ bằng sự trở về
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng (hiện đang công tác tại Đại học Gustave Eiffel, Pháp) bày tỏ, kể từ khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành đã nhận được sự quan tâm, hưởng ứng rộng rãi của nhân dân, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
“Như trong Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã nhấn mạnh rất rõ rằng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn cũng đã chứng minh cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn đoàn kết, đồng lòng, tin tưởng vào sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng nhấn mạnh.
Cũng theo Phó Giáo sư Hưng, hiện nay, hơn 6 triệu người sinh sống tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó đội ngũ trí thức chiếm tỷ lệ đáng kể. Đây là nguồn lực nội sinh quan trọng, có thể đóng góp thiết thực cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam. Việc tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, cũng như triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW nói riêng, vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam.
Đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa có điều kiện làm việc toàn thời gian trong nước, sự tham gia đóng góp có thể được thay đổi theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Thứ nhất, thông qua hợp tác và chuyển giao khoa học công nghệ. Thời gian qua, nhiều hoạt động hợp tác đã được triển khai, song phần lớn vẫn dựa trên các mối quan hệ cá nhân ở nước ngoài với tổ chức ở trong nước. Để thúc đẩy hiệu quả và bền vững hơn, cần có cơ chế, chính sách minh bạch, đồng bộ nhằm thu hút, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác, đồng thời lường trước và hài hòa các lợi ích giữa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu.
Thứ hai, tham gia công tác tham mưu, tư vấn chính sách. Với lợi thế am hiểu mô hình phát triển của các quốc gia sở tại, đội ngũ trí thức kiều bào có thể nghiên cứu, so sánh, phân tích và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam. Những khuyến nghị này sẽ là nguồn tham chiếu quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách và hoạch định chiến lược phát triển.
Thứ ba, phát huy uy tín và mạng lưới học thuật quốc tế để kết nối, thu hút các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài đến Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu, hợp tác. Đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, giảng viên trong nước thông qua các chương trình đào tạo, trao đổi chuyên môn.
“Có thể thấy, cơ hội và hình thức đóng góp là đa dạng. Tuy nhiên, để những đóng góp ấy trở thành hiện thực, cần sự chủ động, khát vọng cống hiến của mỗi cá nhân, cùng với cơ chế chính sách phù hợp từ phía trong nước nhằm tạo lập môi trường hợp tác hiệu quả, bền vững”, Phó Giáo sư Hưng nhìn nhận.
Cùng trao đổi, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn (hiện công tác tại Viện Công nghệ Hoàng gia KTH, Thụy Điển) cũng chia sẻ về vai trò và cách thức kết nối trí thức Việt ở nước ngoài với sự phát triển của quê hương.
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn bày tỏ, Tết Nguyên đán luôn là thời điểm khiến những người Việt ở xa nghĩ nhiều hơn về nơi mình lớn lên và thuộc về. Theo tiến sĩ, cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn lực đặc biệt bởi họ mang trong mình sự kết hợp giữa bản sắc Việt Nam và trải nghiệm quốc tế. Dù không làm việc toàn thời gian trong nước, đội ngũ này vẫn có thể đóng góp theo nhiều cách rất thiết thực.
Thứ nhất là kết nối tri thức. Các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài có thể trở thành cầu nối giữa các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu quốc tế với các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước. Sự kết nối này giúp Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với công nghệ mới, phương pháp mới và các xu hướng khoa học toàn cầu.
Thứ hai là vai trò cố vấn, dẫn dắt thế hệ trẻ. Việc hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh, chia sẻ kinh nghiệm viết học bổng, lựa chọn hướng nghiên cứu hay định hướng nghề nghiệp có thể tạo ra tác động rất lớn. Chỉ một giờ chia sẻ cũng có thể thay đổi hành trình của một bạn trẻ.
Thứ ba là tham gia các dự án, đề tài và hội thảo trong nước. Dù ở xa, trí thức Việt Nam vẫn có thể góp ý chuyên môn, đồng hướng dẫn đề tài hoặc hợp tác xây dựng các nhóm nghiên cứu liên quốc gia. Những đóng góp này không đòi hỏi sự hiện diện thường xuyên nhưng mang lại giá trị dài hạn.
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn nhìn nhận, mỗi nhà khoa học Việt Nam thành công ở nước ngoài cũng đang góp phần lan tỏa tinh thần khoa học và xây dựng hình ảnh đẹp về trí tuệ Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đó cũng là một sự cống hiến quan trọng.
“Điều cốt lõi không nằm ở việc chúng ta đang ở đâu, mà ở tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến luôn được nuôi dưỡng trong mỗi người. Khi mỗi bạn trẻ, mỗi nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài làm tốt công việc của mình, sống “tử tế” với tri thức, giữ vững đạo đức nghề nghiệp và luôn hướng về quê hương, thì dù ở bất cứ quốc gia nào, họ vẫn đang góp phần bồi đắp sức mạnh nội sinh, chung tay kiến tạo một Việt Nam phát triển vững vàng trong kỷ nguyên mới”, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn bộc bạch thêm.
Mô hình kết nối kiều bào trí thức với quê hương của một số nước trên thế giới
Chia sẻ về một số mô hình kết nối kiều bào trí thức với quê hương tại Thuỵ Điển, Tiến sĩ Tuấn cho hay, tại nước này, mô hình kết nối trí thức với quốc gia gốc được vận hành hiệu quả và bền vững trên nền tảng ba nguyên tắc: Tự nguyện - Tin cậy - Giá trị thực chất.
Theo đó, Chính phủ, các viện nghiên cứu và trường đại học tại Thụy Điển thường xuyên mời các nhà khoa học tham gia hội thảo chuyên đề, đảm nhiệm vai trò cố vấn học thuật hoặc đồng chủ trì các dự án nghiên cứu.
Hình thức kết nối hết sức linh hoạt, có thể là một buổi hội thảo trực tuyến, một dự án nghiên cứu chung, hay đơn giản là một buổi chia sẻ kinh nghiệm với sinh viên. Điều đáng chú ý là mọi hoạt động đều đặt trọng tâm vào hiệu quả chuyên môn, không nặng về nghi thức hay ràng buộc hành chính phức tạp.
Kinh nghiệm từ Thụy Điển cho thấy, khi cơ chế được thiết kế theo hướng cởi mở và đề cao sự tin cậy, bất kỳ ai có mong muốn đóng góp đều có thể tham gia phù hợp với năng lực và quỹ thời gian của mình. Chính môi trường minh bạch, tôn trọng chuyên môn và đánh giá cao giá trị thực chất đã tạo động lực để cộng đồng trí thức quốc tế chủ động chia sẻ và gắn bó lâu dài.
Từ góc nhìn đó, theo Tiến sĩ Tuấn, Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo cách tiếp cận này bằng việc xây dựng những cầu nối mềm” giữa trí thức kiều bào và các tổ chức trong nước - những không gian học thuật để lắng nghe, trao đổi và hợp tác tự nhiên, không gò bó. Khi cơ chế đủ minh bạch, thân thiện và lấy hiệu quả làm thước đo, nguồn lực trí thức Việt Nam toàn cầu sẽ có thêm điều kiện để phát huy vai trò trong phát triển khoa học công nghệ của đất nước.
Tiến sĩ Tuấn đúc kết: “Suy cho cùng, điều quan trọng không nằm ở khoảng cách địa lý, mà ở việc giữ được một cộng đồng trí thức Việt Nam trên toàn thế giới cùng chung tầm nhìn, cùng hướng về tương lai phát triển của đất nước”.
Qua kinh nghiệm nghiên cứu, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng lấy dẫn chứng ở Trung Quốc để thấy rõ cách thức tổ chức và khai thác nguồn lực trí thức ở nước ngoài.
Phó Giáo sư Hưng cho biết, từ những năm 1980, Trung Quốc đã chủ động cử số lượng lớn sinh viên, nghiên cứu sinh sang phương Tây học tập. Điều đáng chú ý là với tư duy cải cách khá cởi mở của lãnh đạo thời kỳ đó, Trung Quốc chấp nhận thực tế rằng không phải tất cả trí thức du học đều trở về theo cam kết ban đầu. Thay vì xem đó là “chảy máu chất xám”, họ coi đây là quá trình tích lũy nguồn lực toàn cầu. Hiện nay, với lực lượng dồi dào, trải khắp các quốc gia, lực lượng trí thức này đã và đang trở về Trung Quốc đóng góp, được gọi bằng thuật ngữ “hải quy” (tạm dịch: “rùa biển” - những người ra đi rồi trở về).
Tương tự, Hàn Quốc và Ấn Độ cũng triển khai những chính sách đặc thù nhằm kết nối, thu hút và tạo điều kiện để trí thức kiều bào tham gia vào các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia.
Từ các kinh nghiệm này, Phó Giáo sư Hưng nhìn nhận: “Chúng ta có thể cân nhắc chuyển trọng tâm từ tư duy "thu hút chất xám" (brain gain) sang "luân chuyển chất xám" (brain circulation). Khái niệm này được đánh giá là phù hợp hơn trong bối cảnh thế giới phẳng hiện nay và khi luân chuyển thì trí thức luôn được trân trọng. Chính sách này cũng nên được thể chế hóa ở mức cao, gắn chặt với luật, thị thực, quốc tịch và ưu đãi mang tính ổn định, lâu dài”.
Cũng theo Phó Giáo sư Hưng, các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu và phát triển trong nước cần chủ động tự đổi mới với tinh thần cởi mở hơn nữa. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo, các cơ sở này cần thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác quốc tế về ngoại giao khoa học như một kênh quan trọng để kết nối nguồn lực tri thức toàn cầu.
Một trong những yếu tố được đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài đặc biệt quan tâm khi tìm hiểu khả năng đóng góp chính là môi trường phát triển. Với đặc thù trọng tâm nghiên cứu thì trí thức cần môi trường phát học thuật cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, đề cao giá trị chuyên môn thay vì chạy theo mục tiêu hình thức hay áp lực chỉ số. Trên hết, môi trường ấy phải được xây dựng trên nền tảng liêm chính khoa học.
"Vấn đề liêm chính không chỉ là câu chuyện riêng của Việt Nam mà đã trở thành thách thức toàn cầu, khi ở nhiều nơi vẫn tồn tại hiện tượng chạy theo thành tích, số lượng công bố hay các chỉ số đo lường hình thức.
Hiện nay, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra đột phá là chấp nhận thất bại trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và tạo ra luồng sinh khí mới cho giới học thuật nước nhà. Đó cũng là tiền đề quan trọng để những sáng kiến khoa học công nghệ được hình thành, ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới".
Còn Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn cho rằng, các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước cần chuyển từ tư duy "chờ đợi" sang chủ động kiến tạo cơ chế hợp tác. Trước hết, điều quan trọng là cần cơ chế mở và linh hoạt, cho phép nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp theo khả năng và thời gian của họ. Sự tham gia có thể đa dạng: Từ cố vấn chuyên môn, đồng hướng dẫn sinh viên, đến hợp tác nghiên cứu trực tuyến. Khi cơ chế đủ linh hoạt, trí thức ở xa vẫn có thể đồng hành một cách thực chất.
Bên cạnh đó, cần phát triển các mô hình hợp tác có định hướng dài hạn như "visiting researcher" (nhà nghiên cứu thỉnh giảng), "adjunct collaborator" (cộng tác viên học thuật). Những mô hình này cho phép chuyên gia ở xa tham gia nghiên cứu, hội thảo hay đánh giá dự án theo từng giai đoạn, qua đó gắn kết hệ thống nghiên cứu trong nước với mạng lưới học thuật toàn cầu một cách bền vững.
"Quan trọng hơn cả là xây dựng môi trường học thuật tôn trọng chuyên môn và đề cao giá trị thực chất. Điều mà trí thức Việt Nam ở nước ngoài mong muốn không phải là những lời kêu gọi mang tính biểu tượng, mà là một nơi tri thức của họ được lắng nghe, được sử dụng đúng năng lực và được ghi nhận xứng đáng.
Khi chúng ta làm được điều đó, Việt Nam sẽ có không chỉ những chiếc cầu nối tri thức, mà là một cộng đồng trí thức toàn cầu thực sự hướng về quê hương bằng trái tim và trách nhiệm", Tiến sĩ Tuấn bộc bạch.
"Điểm nghẽn" không nằm ở khoảng cách địa lý
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn chia sẻ, "điểm nghẽn" lớn nhất hiện nay không nằm ở khoảng cách địa lý hay điều kiện vật chất, mà ở khoảng cách giữa khát vọng cống hiến và cơ chế tiếp nhận. Nhiều nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài mong muốn đóng góp cho quê hương, nhưng lại lúng túng trước câu hỏi: Bắt đầu từ đâu, liên hệ với ai, và liệu những đóng góp của mình có thực sự tạo ra giá trị hay không?
Thực tế cho thấy, điều họ cần không phải là những chương trình quy mô lớn mang tính biểu tượng, mà là những "cầu nối" cụ thể, thiết thực và minh bạch như một cơ chế cố vấn từ xa, một nền tảng kết nối chuyên gia rõ ràng hay những lời mời hợp tác có mục tiêu, lộ trình và trách nhiệm cụ thể; cùng với đó là quy trình thủ tục tinh gọn, đề cao hiệu quả hơn hình thức.
"Khi một nhà khoa học cảm nhận được rằng nỗ lực của họ được lắng nghe và được đón nhận bằng sự chân thành, họ sẽ tự nguyện quay về bằng trí tuệ, kinh nghiệm và trái tim", Tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng cũng cho rằng, các nhà khoa học, trí thức người Việt ở nước ngoài nói riêng hay cộng đồng người Việt ở nước ngoài nói chung không có tâm lý e ngại khi cống hiến cho đất nước. Có chăng là những băn khoăn mang tính cá nhân khi cân nhắc quyết định về nước công tác; hoặc đối với những người lựa chọn tiếp tục phát triển sự nghiệp tại quốc gia sở tại, họ đôi khi chưa xác định được hình thức đóng góp phù hợp.
Phó Giáo sư Hưng bày tỏ, trên thực tế, mỗi cá nhân trước khi đưa ra quyết định luôn chịu tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan: Định hướng phát triển sự nghiệp, điều kiện gia đình, nguyện vọng cá nhân, cũng như các cơ hội nghề nghiệp và chính sách mới được mở ra. Đây là những cân nhắc chính đáng của mỗi cá nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa và dịch chuyển lao động tri thức ngày càng phổ biến.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để trí thức ở nước ngoài có thêm cơ hội tham gia đóng góp. Cả hệ thống chính trị đã vào cuộc nhằm thu hút và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao; nhiều bộ, ngành và địa phương đã cụ thể hóa bằng các chương trình, đề án hành động thiết thực.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tiễn vẫn còn một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ. Bên cạnh các vấn đề về môi trường làm việc và cơ hội nghề nghiệp, một yếu tố không kém phần quan trọng là khả năng hòa nhập của mỗi cá nhân khi trở về. Mỗi quốc gia có đặc thù về văn hóa công sở, phương thức quản trị và cách thức vận hành hệ thống khác nhau. Do đó, việc thích ứng với môi trường làm việc trong nước cũng cần thời gian và sự hỗ trợ phù hợp.
Vì vậy, cùng với chính sách thu hút, cần có những chương trình hành động cụ thể để hỗ trợ mỗi cá nhân khi về nước. Chẳng hạn như các khóa bồi dưỡng kỹ năng mềm về quản lý nhà nước hoặc bồi dưỡng, nâng cao lý luận chính trị… Qua đó, giúp rút ngắn thời gian thích nghi, tạo điều kiện để trí thức phát huy năng lực một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Nhiều kỳ vọng được gửi gắm trong năm mới
Phó Giáo sư Hưng chia sẻ thêm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp, mở ra một giai đoạn phát triển mới với nhiều kỳ vọng và quyết tâm hành động. Thời điểm này có thể xem là “thời điểm vàng” để toàn Đảng, toàn dân ta đồng lòng triển khai các mục tiêu chiến lược, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Trong đó, ngoại giao khoa học được xác định là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần tranh thủ nguồn lực tri thức quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra 3 đột phá về thể chế và thực thi, đột phá về nguồn lực chất lượng cao gắn liền khoa học, đột phá về hạ tầng đường bộ.
Ba đột phá này có mối quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau: Thể chế là "đường ray" định hướng và bảo đảm vận hành; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng phát triển; còn hạ tầng tạo dựng không gian tăng trưởng và sức bật mới. Khi được triển khai đồng bộ, quyết liệt và thực chất, đây sẽ là nền tảng để tạo nên thế và lực mới cho đất nước trong giai đoạn tới.
Bước sang năm mới, cùng với niềm tin và kỳ vọng chung của toàn dân tộc, điều quan trọng là phải được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực, hiệu quả và thực chất.
Còn Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn thì gửi gắm: "Tôi mong rằng tri thức khoa học được lắng nghe nhiều hơn, đồng thời, những nỗ lực bền bỉ, thầm lặng của người trẻ sẽ được nhìn nhận, ghi nhận xứng đáng. Tôi cũng hy vọng rằng, dù mỗi người đang ở bất cứ phương trời nào, trái tim chúng ta vẫn chung một hướng về Việt Nam, cùng góp một phần nhỏ bé vào một tương lai bình yên, vững vàng và tốt đẹp hơn cho quê hương".
