Tại cuộc họp về Đề án xây dựng hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông do Thứ trưởng Thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng chủ trì ngày 4/3, nhiều ý kiến đã nhấn mạnh sự cần thiết phải sớm hình thành một nền tảng học liệu số chung. Hệ thống học liệu này không chỉ dừng lại ở việc số hóa sách giáo khoa mà còn phát triển hệ thống học liệu mở, được thẩm định và chuẩn hóa.
Từ thực tế giảng dạy, nhiều nhà giáo cũng cho rằng đây là giải pháp cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Một hệ thống học liệu số thống nhất không chỉ giúp giáo viên giảm tải trong khâu tìm kiếm, chuẩn bị bài giảng mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng miền.
Học liệu số quốc gia là "đòn bẩy” nâng cao chất lượng giáo dục
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Huỳnh Thị Ngọc Hà - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lạc Tánh 1 (xã Tánh Linh, tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, qua những thông tin mà Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố, có thể thấy hệ thống học liệu số quốc gia trong tương lai sẽ là một nền tảng quy mô lớn, đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức. Đây là một tín hiệu rất tích cực đối với đội ngũ giáo viên, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục và đẩy mạnh chuyển đổi số hiện nay.
Cô Hà chia sẻ: "Lợi ích rõ rệt nhất của học liệu số là giúp giảm tải đáng kể cho giáo viên trong khâu chuẩn bị bài giảng. Khi đã có sẵn khung học liệu cơ bản, giáo viên không cần bắt đầu từ con số 0 mà có thể dựa vào đó để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế lớp học. Nhờ vậy, thời gian dành cho việc soạn bài được rút ngắn, tạo điều kiện để giáo viên tập trung nhiều hơn vào tổ chức hoạt động dạy học, tương tác và hỗ trợ học sinh".
Trong bối cảnh sắp tới có sự thống nhất trong việc sử dụng sách giáo khoa, nhiều giáo viên có thể sẽ phải làm quen lại với cấu trúc, cách trình bày của bộ sách mới. Dù cùng một chương trình, nhưng cách thiết kế nội dung giữa các bộ sách có sự khác biệt nhất định. Nếu không có học liệu số hỗ trợ, giáo viên sẽ phải dành nhiều thời gian nghiên cứu và soạn lại bài từ đầu.
Ngược lại, khi có hệ thống học liệu số quốc gia, giáo viên có thể tham khảo ngay các tài liệu đã được chuẩn hóa, từ đó chỉ cần điều chỉnh, đào sâu nội dung chuyên môn và thiết kế bài giảng phù hợp hơn với học sinh của mình.
Bên cạnh đó, học liệu số còn giúp đa dạng hóa phương pháp dạy học, làm phong phú nội dung bài giảng thông qua các định dạng trực quan như video, mô phỏng, thí nghiệm ảo. Những hình thức này không chỉ hỗ trợ giáo viên trong việc truyền đạt kiến thức mà còn giúp học sinh hứng thú hơn, dễ tiếp thu và ghi nhớ lâu hơn. Đặc biệt, với những trường còn thiếu học cụ trực quan, việc sử dụng học liệu số thông qua tivi, máy chiếu có thể phần nào bù đắp hạn chế, mang lại trải nghiệm học tập sinh động hơn cho học sinh.
Một vấn đề khác được cô Hà đặc biệt lưu ý là thực trạng nguồn học liệu trên internet hiện nay. Dù có nhiều nguồn tài liệu phong phú, song chất lượng lại không đồng đều, thậm chí có những nội dung chưa được kiểm chứng, tiềm ẩn nguy cơ sai lệch kiến thức.
Nếu giáo viên không cẩn trọng trong việc lựa chọn và sử dụng, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bài giảng và quá trình tiếp nhận của học sinh. Chính vì vậy, việc xây dựng một hệ thống học liệu số quốc gia với quy trình thẩm định chặt chẽ là rất cần thiết, nhằm cung cấp nguồn tài liệu chính thống, đáng tin cậy và thống nhất cho toàn ngành, đồng thời hạn chế tình trạng “mỗi nơi một kiểu” trong dạy học.
Đồng tình với ý kiến trên, cô Đỗ Thị Mến - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (xã Sông Mã, tỉnh Sơn La) cho biết, hiện nay, trên internet tồn tại rất nhiều nguồn học liệu khác nhau, trong đó không ít tài liệu chưa được kiểm chứng về độ chính xác và tính chính thống. Vì vậy, nhà trường luôn quán triệt giáo viên không sử dụng các nguồn học liệu trôi nổi, chưa được thẩm định, nhằm đảm bảo chất lượng giảng dạy.
"Khi có một hệ thống học liệu số quốc gia được xây dựng bài bản, với quy trình kiểm định rõ ràng thì giáo viên sẽ yên tâm hơn khi sử dụng, đồng thời tiết kiệm thời gian tìm kiếm và lựa chọn tài liệu. Đây sẽ là nguồn học liệu chính thống, giúp thống nhất nội dung giảng dạy và hỗ trợ hiệu quả cho giáo viên trong bối cảnh áp lực công việc ngày càng lớn.
Với một trường học ở vùng cao, việc ứng dụng học liệu số vào dạy và học là mong muốn rất lớn của nhà trường. Thực tế, học sinh tại đây phần lớn chưa có điều kiện tiếp cận các thiết bị cá nhân như điện thoại thông minh hay máy tính bảng, nên cơ hội tiếp cận học liệu số còn nhiều hạn chế so với học sinh ở khu vực thuận lợi.
Chính vì vậy, việc khai thác học liệu số ngay trong thời gian học trên lớp trở nên đặc biệt quan trọng. Học liệu số không chỉ giúp giáo viên thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm tài liệu mà còn góp phần làm phong phú, sinh động tiết học. Khi được tích hợp các định dạng trực quan như video, mô phỏng hay thí nghiệm ảo, bài giảng trở nên hấp dẫn hơn, giúp học sinh dễ hình dung, dễ tiếp thu kiến thức, nhất là trong điều kiện thiếu học cụ trực quan", cô Mến nhận định.
Đáng chú ý, trong bối cảnh sắp tới sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa trên toàn quốc, việc có một hệ thống học liệu số chung sẽ giúp đồng bộ nội dung giảng dạy giữa các vùng miền, tạo thuận lợi cho giáo viên trong quá trình tìm kiếm và khai thác tài liệu. Đồng thời, hệ thống này cũng góp phần định hướng nội dung giảng dạy rõ ràng hơn, khắc phục tình trạng “nhiễu loạn” học liệu từ nhiều nguồn trôi nổi như hiện nay.
Đối với học sinh vùng cao, dù không có điều kiện học tập với thiết bị cá nhân tại nhà, nhưng khi đến trường, các em vẫn có cơ hội tiếp cận tri thức hiện đại thông qua tivi, máy chiếu và các bài giảng số. Theo cô Mến, đây là cách hiệu quả để thu hẹp khoảng cách giữa học sinh vùng khó và vùng thuận lợi, giúp các em được trải nghiệm những phương thức học tập mới mẻ, từ đó nâng cao chất lượng tiếp thu kiến thức.
Giáo viên cần linh hoạt trong sử dụng học liệu số
Chia sẻ về khả năng ứng dụng học liệu số vào giảng dạy tại nhà trường, cô Đỗ Thị Mến cho hay, tại Trường Tiểu học Nguyễn Trãi, dù đã được trang bị tivi kết nối internet và có mạng phục vụ dạy học, nhưng đường truyền vẫn chưa thực sự ổn định. Để khắc phục, nhà trường phải chủ động đăng ký sử dụng nhiều nhà mạng khác nhau nhằm đảm bảo việc truy cập không bị gián đoạn.
Do đó, có thể thấy để học liệu số phát huy tối đa hiệu quả, yếu tố hạ tầng, đặc biệt là đường truyền internet đóng vai trò rất quan trọng. Từ thực tế này, cô Mến cho biết khi triển khai hệ thống học liệu số quốc gia, các địa phương sẽ cần quan tâm đầu tư đồng bộ hơn về hạ tầng công nghệ, đặc biệt là nâng cao chất lượng đường truyền internet. Có như vậy, giáo viên và học sinh, nhất là ở vùng cao mới có thể tiếp cận và khai thác hiệu quả nguồn học liệu số, qua đó phát huy tối đa ý nghĩa của chuyển đổi số trong giáo dục.
Cô Trần Thị Thanh Vân - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Võ Như Hưng (phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng) cũng cho rằng, việc xây dựng hệ thống học liệu số quốc gia đồng bộ sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho giáo viên. Khi có nguồn học liệu chung, giáo viên sẽ giảm đáng kể thời gian tìm kiếm, lựa chọn tài liệu, từ đó có thể khai thác dữ liệu nhanh chóng, hiệu quả và ứng dụng tốt hơn vào hoạt động giảng dạy.
Theo cô Vân, hệ thống học liệu số cần được xây dựng đầy đủ về nội dung, bao quát các môn học, cấp học. Đồng thời, về hình thức, nên đa dạng hóa với các định dạng nghe - nhìn như video, âm thanh, bài giảng có giọng đọc, hội thoại…
Ví dụ, với môn Tiếng Anh, giáo viên sẽ muốn được cung cấp nhiều đoạn hội thoại, tình huống giao tiếp; với các môn khác có thể bổ sung câu chuyện lịch sử, bài giảng minh họa sinh động. Điều này không chỉ giúp tăng hiệu quả tiếp thu của học sinh mà còn tạo điều kiện để cả những trường còn hạn chế về thiết bị công nghệ vẫn có thể khai thác, sử dụng linh hoạt.
"Xây dựng hệ thống học liệu số quốc gia là điều cấp thiết, song giáo viên không nên lạm dụng học liệu số mà hãy coi đây là công cụ hỗ trợ cho giảng dạy, kết hợp với các phương pháp truyền thống để đảm bảo hiệu quả. Bên cạnh đó, các trường học cũng cần chủ động đề xuất nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên và học sinh trong việc tiếp cận, ứng dụng học liệu số vào thực tiễn", cô Vân bày tỏ.
Đóng góp thêm cho Đề án xây dựng hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông, cô Huỳnh Thị Ngọc Hà nhấn mạnh, phải xây dựng hệ thống học liệu số quốc gia theo hướng thiết thực, đáp ứng sát nhu cầu của giáo viên. Trong đó, một nội dung nên được bổ sung là các loại bản đồ phục vụ giảng dạy, đặc biệt là bản đồ 2D và 3D. Nếu có thể xây dựng chi tiết hơn theo từng tỉnh, thành, phù hợp với đơn vị hành chính mới thì sẽ hỗ trợ hiệu quả cho các môn như Địa lý, Lịch sử và Giáo dục địa phương.
"Hiện nay trên internet có nhiều nguồn bản đồ, nhưng giáo viên lại không dám sử dụng vì lo ngại về độ chính xác. Đối với những nội dung nhạy cảm như bản đồ, chỉ cần một sai lệch nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng lớn, trong khi giáo viên không có đủ điều kiện để tự kiểm chứng. Vì vậy, nếu hệ thống học liệu số quốc gia cung cấp các bản đồ đã được thẩm định chính thức, giáo viên sẽ yên tâm hơn khi sử dụng trong giảng dạy", cô Hà nhấn mạnh.
Bên cạnh việc hoàn thiện nội dung, cô Hà cũng nêu rõ vai trò của công tác tập huấn khi triển khai hệ thống trên toàn quốc. Theo cô, ở giai đoạn đưa hệ thống học liệu số quốc gia vào sử dụng, các tỉnh, thành phải tổ chức chương trình tập huấn bài bản, giúp giáo viên hiểu rõ cách khai thác, sử dụng học liệu số một cách hiệu quả và thống nhất.
Ngoài ra, cô cũng lưu ý rằng giáo viên cần chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng học liệu số, tránh tâm lý phụ thuộc hoàn toàn. Học liệu số nên được coi là nguồn tham khảo nền tảng, từ đó giáo viên điều chỉnh, sáng tạo để phù hợp với đặc thù lớp học.
Một tiết học hiệu quả không chỉ dựa vào việc trình chiếu nội dung số mà còn cần sự kết hợp hài hòa giữa các phương pháp. Giáo viên có thể sử dụng video, mô phỏng để minh họa, tạo hứng thú ban đầu, nhưng vẫn cần duy trì các hoạt động tương tác trực tiếp, sử dụng học cụ thực tế để học sinh được trải nghiệm, ghi nhớ sâu hơn.