Trong văn bản gửi tới các cơ quan báo chí về Tình hình cung ứng sách giáo khoa phục vụ năm học 2026 - 2027 và một số nội dung về sách giáo khoa được dư luận quan tâm (tại hội nghị giao ban báo chí trung ương hôm nay, 15/9/2026), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thẳng thắn nhìn nhận, trách nhiệm quản lý, trách nhiệm để xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa cục bộ thuộc về Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và các địa phương. Tuy nhiên, từ các nguyên nhân được Bộ chỉ ra cũng rất cần được đánh giá, phân tích rõ để có giải pháp hiệu quả cho thời gian tới.
Theo số liệu của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tổng nhu cầu sách giáo khoa sau điều chỉnh là 245,94 triệu bản, tăng 39,7% so với dự báo ban đầu. Đến ngày 14/9, Nhà xuất bản đã cung ứng khoảng 236,60 triệu bản.
Cũng trong ngày 14/9, Bộ Giáo dục và Đào tạo họp trực tuyến với Sở Giáo dục và Đào tạo của 34 tỉnh, thành phố để tiếp tục rà soát tình trạng thiếu sách. Theo số liệu cập nhật đến 18 giờ ngày 14/9, các địa phương còn thiếu 3.916.370 cuốn sách giáo khoa.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có trách nhiệm tổ chức sản xuất, kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, đồng thời thực hiện nhiệm vụ chính trị là cung ứng sách giáo khoa kịp thời, đầy đủ cho giáo viên và học sinh.
Theo cơ chế hiện hành, sách giáo khoa được tổ chức sản xuất, lưu thông như một loại hàng hóa. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải chủ động vay vốn ngân hàng để thực hiện việc đấu thầu, in, vận chuyển và phát hành. Hằng năm, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam sử dụng hơn 2.000 tỷ đồng vốn vay ngắn hạn để sản xuất và cung ứng sách giáo khoa.
Nguồn vốn này phụ thuộc vào hạn mức tín dụng do các ngân hàng thương mại cấp trên cơ sở tài sản bảo đảm, uy tín và thương hiệu của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chỉ đủ phục vụ việc in sách cho từng năm học. Vì vậy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải xây dựng kế hoạch sản xuất theo sản lượng cụ thể; không thể in sẵn một lượng sách quá lớn để dự trữ trong khi chưa xác định được nhu cầu.
Báo cáo của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cũng chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách miễn phí sách giáo khoa.
Ngày 3/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 271/2026/NĐ-CP quy định về miễn phí sách giáo khoa, theo đó chính sách này bắt buộc thực hiện từ năm học 2029-2030. Nghị định quy định các địa phương phải dự báo nhu cầu và lập dự toán trước ngày 30/10 hằng năm để có thể hoàn thành việc in, nhập kho trước ngày 15/6 năm sau.
Khi Nghị định số 271/2026/NĐ-CP được ban hành vào đầu tháng 7/2026, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã in và phát hành khoảng 80% sản lượng sách phục vụ năm học 2026-2027. Nhà xuất bản cho rằng việc triển khai miễn phí sách giáo khoa ngay trong năm học này không phù hợp với chu trình sản xuất, tiềm ẩn nguy cơ thiếu, thừa sách cục bộ và lãng phí nguồn lực.
Được biết, trước lo ngại trên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã có Công văn số 1246/NXBGDVN ngày 21/7/2026 gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Sở Giáo dục và Đào tạo, nêu rõ những khó khăn, bất cập và kiến nghị thực hiện chính sách theo đúng lộ trình.
Tuy nhiên, trong tháng 7 và tháng 8/2026, một số địa phương vẫn công bố kế hoạch miễn phí sách giáo khoa từ năm học 2026-2027. Đến ngày 12/9/2026, cả 10 địa phương dự kiến thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa trong năm học 2026-2027 đều chưa triển khai được.
Ngoài ra, công tác đăng ký, dự báo và phối hợp cung ứng tại một số địa phương cũng chưa thật chủ động, dẫn đến khoảng cách giữa nhu cầu thực tế và thông tin phục vụ cung ứng. Việc cập nhật nhu cầu phát sinh, nhất là sau khi có những thay đổi về tổ chức trường, lớp, chính sách hỗ trợ sách giáo khoa và nhu cầu mua thêm của học sinh, cha mẹ học sinh, ở một số nơi chưa kịp thời.
Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo và địa phương cũng cần được xác định, nhìn nhận rõ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho rằng, bảo đảm đủ sách giáo khoa cho học sinh phải được nhìn nhận là một nhiệm vụ bảo đảm điều kiện học tập, trong đó có trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm của các đơn vị sản xuất, cung ứng; không thể giao toàn bộ trách nhiệm này cho riêng nhà xuất bản. Tuy nhiên, xác định đây là trách nhiệm phối hợp không có nghĩa là làm mờ trách nhiệm của từng chủ thể.
Theo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tình trạng khan hiếm và "sốt sách" cục bộ tại một số địa phương không xuất phát từ việc thiếu nguồn cung tổng thể mà chủ yếu do nhu cầu thực tế tăng cao so với dự báo; kênh đăng ký mua sách qua nhà trường bị gián đoạn; kế hoạch đặt hàng của một số đơn vị phát hành chưa sát thực tế; việc vận chuyển, bổ sung sách không đáp ứng kịp nhu cầu tăng đột biến tại một số địa bàn. Bên cạnh đó, việc triển khai chính sách miễn phí sách giáo khoa cũng phát sinh những vướng mắc.
Về cơ chế, đại biểu cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xác định rõ đầu mối điều phối, bảo đảm thông tin dữ liệu về nhu cầu sử dụng sách và các chính sách liên quan được cung cấp kịp thời. Sở Giáo dục và Đào tạo tổng hợp, kiểm tra nhu cầu trên địa bàn; cơ sở giáo dục nắm nhu cầu thực tế của học sinh; đơn vị phát hành chịu trách nhiệm về đặt hàng, phân phối và thông tin tồn kho. Nhà xuất bản chủ động xây dựng phương án sản xuất, dự phòng, cảnh báo rủi ro và thực hiện các cam kết cung ứng.
Cũng theo đại biểu Việt Nga, cần có cơ chế dữ liệu dùng chung phục vụ dự báo và điều phối sách giáo khoa. Tuy nhiên, điều cần quan tâm trước hết là dữ liệu có đúng, có được cập nhật và có giúp đưa ra quyết định kịp thời hay không.
Đại biểu phân tích: "Nên ưu tiên kết nối, bổ sung chức năng trên nền tảng dữ liệu ngành giáo dục, tránh tạo thêm một hệ thống khiến nhà trường phải nhập đi nhập lại cùng một thông tin. Dữ liệu phục vụ cung ứng phải đủ chi tiết đến từng trường, khối lớp, đầu sách và thời điểm cần sách.
Đặc biệt, cần phân biệt số lượng học sinh với số lượng sách phải mua mới. Có học sinh sử dụng lại sách phù hợp; có em được mượn sách từ thư viện; có em được hỗ trợ theo chính sách địa phương. Nếu chỉ lấy tổng số học sinh để tính nhu cầu in mới, có thể dẫn đến dư thừa. Ngược lại, nếu chỉ căn cứ vào đơn đăng ký mua qua một kênh phát hành, có thể bỏ sót nhu cầu thực tế.
Vì vậy, hệ thống cần phản ánh đồng thời số học sinh dự kiến, số sách còn sử dụng được, nhu cầu mua mới, nhu cầu mượn, lượng đã đặt, lượng đã giao và phần còn thiếu. Kế hoạch hỗ trợ cũng phải phân biệt rõ: mới dự kiến, đã được phê duyệt, đã bố trí kinh phí hay đã hoàn tất mua sắm. Một chủ trương chưa trở thành sách trong thư viện thì chưa thể được tính là nhu cầu đã được đáp ứng.
Dữ liệu phải được trao đổi hai chiều. Nhà trường và địa phương cung cấp nhu cầu; nhà xuất bản và đơn vị phát hành cập nhật khả năng đáp ứng, tiến độ giao hàng. Khi có chênh lệch, hệ thống phải giúp phát hiện sớm để điều chuyển hoặc bổ sung.
Việc chia sẻ cũng cần có giới hạn phù hợp. Để lập kế hoạch in và phân phối, đơn vị cung ứng chủ yếu cần số liệu tổng hợp, không cần tiếp cận tràn lan thông tin cá nhân của học sinh. Giá trị của dữ liệu không nằm ở số lượng báo cáo được thu thập, mà ở khả năng giúp một cuốn sách đến đúng nơi, trước khi học sinh cần sử dụng".
Cũng theo đại biểu, trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo và địa phương cũng cần được xác định, nhìn nhận rõ. Theo đó, địa phương phải chủ động bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh trên địa bàn. Sở Giáo dục và Đào tạo cần được xác định rõ vai trò đầu mối chuyên môn trong việc tổng hợp nhu cầu, theo dõi cung ứng, cảnh báo thiếu sách và tham mưu giải pháp cho chính quyền địa phương.
Trước hết, dự báo phải bắt đầu từ cơ sở giáo dục, có kiểm tra và cập nhật theo tuyển sinh, chuyển trường, biến động dân cư. Sở cần đối chiếu nhu cầu với khả năng cung ứng, phát hiện sớm những trường, địa bàn có nguy cơ thiếu. Những nơi xa trung tâm, đi lại khó khăn càng cần được tính đến từ đầu trong kế hoạch vận chuyển.
Đối với chính quyền địa phương, trách nhiệm cần gắn với việc quyết định, tổ chức thực hiện chính sách và bảo đảm nguồn lực theo thẩm quyền. Nếu triển khai hỗ trợ hoặc miễn phí sách giáo khoa, phải xác định rõ đối tượng, hình thức hỗ trợ, kinh phí, đơn vị thực hiện và thời hạn giao sách. Không nên để phụ huynh chờ đợi trong khi nhà trường chưa biết khi nào có sách, còn đơn vị cung ứng chưa nhận được kế hoạch mua sắm cụ thể.
"Nghị định số 271/2026/NĐ-CP đã quy định việc miễn phí sách giáo khoa theo hình thức mượn trả, triển khai trên toàn quốc từ năm học 2029 - 2030, đồng thời khuyến khích địa phương có điều kiện thực hiện sớm hơn.
Vì vậy, thông tin đến phụ huynh phải rõ chính sách nào áp dụng tại địa phương, từ thời điểm nào và học sinh nhận sách bằng cách nào. Muốn tránh quy trách nhiệm một chiều, cần có hồ sơ theo dõi được toàn bộ quá trình: Nhu cầu được báo khi nào, có chính xác không, đơn hàng được xác nhận ra sao, bên cung ứng cam kết thời điểm nào, cảnh báo đã được gửi đến ai và xử lý thế nào. Từ đó mới xác định được trách nhiệm tương ứng với nhiệm vụ, thẩm quyền và hành vi cụ thể.
Nếu địa phương báo nhu cầu chậm thì phải làm rõ trách nhiệm của địa phương. Nếu nhu cầu đã được xác nhận đúng hạn nhưng nhà xuất bản hoặc đơn vị phát hành giao không đúng cam kết thì phải làm rõ trách nhiệm của bên cung ứng. Phối hợp phải giúp công việc thông suốt hơn và trách nhiệm rõ hơn. Học sinh, phụ huynh không thể trở thành người gánh chịu khoảng trống giữa các cơ quan, đơn vị", đại biểu Việt Nga lý giải.
Chuyển từ xử lý thiếu sách sang cơ chế chủ động bảo đảm sách
Từ câu chuyện thiếu sách giáo khoa trước năm học mới, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cần thay đổi cơ chế để mọi học sinh có đủ sách khi bước vào năm học mới và trách nhiệm được xác lập đến cùng.
Theo đại biểu, thay đổi căn bản là thiết lập một quy trình bảo đảm sách giáo khoa có thời hạn, có đầu mối chịu trách nhiệm và có khả năng xử lý sớm nguy cơ thiếu sách.
Trước hết, cần xây dựng lịch cung ứng hằng năm theo tiến độ lùi từ thời điểm học sinh phải có sách. Từ đó xác định mốc dự báo ban đầu, cập nhật nhu cầu, hoàn tất các thủ tục mua sắm đối với nguồn ngân sách, tổ chức sản xuất và giao nhận. Lịch này phải tính đến thời gian vận chuyển, phân phối đến trường và một khoảng dự phòng để xử lý phát sinh. Không thể lấy ngày khai giảng làm thời điểm bắt đầu kiểm tra xem học sinh còn thiếu những gì.
Thứ hai, cần có cơ chế điều chỉnh nhu cầu và dự phòng hợp lý. Tuyển sinh, chuyển trường có thể làm thay đổi số lượng sử dụng, nên kế hoạch phải cho phép bổ sung theo những mốc rõ ràng. Mức dự phòng cần dựa trên dữ liệu, đặc điểm địa bàn và khả năng tái sử dụng sách để vừa bảo đảm đáp ứng, vừa tránh lãng phí. Trách nhiệm, chi phí điều chuyển và thời hạn giao bổ sung cần được xác định trước.
Thứ ba, phải bảo đảm các kênh tiếp cận sách thuận tiện. Nếu một kênh đăng ký thay đổi hoặc gián đoạn, phải có phương án thay thế và thông báo sớm. Nhà trường cần nắm tình trạng có sách của học sinh, hướng dẫn phụ huynh tiếp cận nguồn cung phù hợp; việc hỗ trợ này phải công khai, tự nguyện, tránh ép mua kèm tài liệu ngoài nhu cầu.
Thứ tư, cần đo kết quả bằng tỷ lệ học sinh có đủ sách theo môn học cần dùng, số trường còn thiếu và thời gian xử lý thiếu sách. Tôi đề nghị quy định rõ đầu mối theo dõi tại Bộ và địa phương; mỗi trường hợp thiếu phải có người tiếp nhận, phương án khắc phục và hạn hoàn thành. Quốc hội, Hội đồng nhân dân có thể giám sát việc thực hiện chính sách, sử dụng kinh phí và kết quả bảo đảm sách cho học sinh trong phạm vi chức năng của mình.
Phân định rõ trách nhiệm nhưng phải tạo được cơ chế phối hợp thực chất
Cùng trao đổi, thầy Nguyễn Văn Ngai - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo và địa phương trong việc bảo đảm sách giáo khoa phải được xác định rất rõ, bởi đây là những đơn vị trực tiếp nắm tình hình giáo dục trên địa bàn.
"Nhà xuất bản là đơn vị tổ chức sản xuất, in ấn, phát hành sách, nhưng không có chức năng để thu thập dữ liệu học sinh có nhu cầu mua sách nên không thể tự mình biết chính xác năm học tới mỗi địa phương có bao nhiêu học sinh, số lượng học sinh tăng giảm như thế nào, có bao nhiêu trường, bao nhiêu lớp, địa phương có chính sách cấp miễn phí hoặc cho học sinh mượn sách ra sao. Những thông tin đó chủ yếu nằm ở cơ quan quản lý giáo dục và chính quyền địa phương.
Nhà xuất bản chỉ có thể xây dựng kế hoạch sản xuất, in ấn và cung ứng trên cơ sở những thông tin được cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời. Nếu dữ liệu đầu vào không đầy đủ hoặc thay đổi quá sát thời điểm năm học mới thì dù năng lực sản xuất có tốt đến đâu, nhà xuất bản cũng khó chủ động đáp ứng", thầy Ngai chia sẻ.
Ở góc độ địa phương, theo thầy Ngai, trước hết Sở Giáo dục và Đào tạo phải là đầu mối tổng hợp, kiểm tra và chịu trách nhiệm về số liệu nhu cầu sách giáo khoa trên địa bàn. Các cơ sở giáo dục phải nắm được số lượng học sinh thực tế, nhu cầu sử dụng từng loại sách và kịp thời báo cáo lên cấp quản lý. Trên cơ sở đó, địa phương cần tổng hợp thành một kế hoạch thống nhất, có dự báo cho năm học tiếp theo và gửi cho Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như đơn vị cung ứng đủ sớm để có thời gian tổ chức sản xuất, in và phân phối.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi Nhà nước triển khai các chính sách liên quan đến cung cấp miễn phí hoặc cho học sinh mượn sách giáo khoa, trách nhiệm của địa phương càng phải được làm rõ. Địa phương không chỉ dự báo số lượng học sinh mà còn phải xác định nhu cầu sách được ngân sách nhà nước bảo đảm, phương án mua sắm, nguồn kinh phí và tiến độ thực hiện. Những thông tin này nếu được xác định muộn sẽ tác động trực tiếp đến kế hoạch sản xuất và cung ứng.
"Tôi cho rằng cần chuyển từ cách làm mà mỗi bên chỉ chịu trách nhiệm một khâu sang cơ chế phối hợp liên thông. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có quy định, hướng dẫn thống nhất; địa phương chịu trách nhiệm về dữ liệu và kế hoạch nhu cầu trên địa bàn; cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; còn nhà xuất bản căn cứ vào những dữ liệu đó để xây dựng kế hoạch sản xuất, phát hành và bảo đảm nguồn cung.
Nếu làm được như vậy thì khi có biến động lớn về số lượng học sinh hoặc chính sách, các bên cũng có thể thông tin sớm cho nhau để điều chỉnh. Không nên đến sát thời điểm khai giảng mới phát hiện nhu cầu tăng cao rồi yêu cầu nhà xuất bản bổ sung, bởi khi đó sẽ tạo áp lực rất lớn cho cả khâu in ấn, vận chuyển và phân phối, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh.
Tôi cũng cho rằng cần xây dựng một hệ thống dữ liệu dùng chung về nhu cầu sách giáo khoa, được cập nhật thường xuyên từ cơ sở giáo dục lên địa phương và kết nối với cơ quan quản lý ở Trung ương cũng như đơn vị cung ứng. Khi có dữ liệu tương đối chính xác và được cập nhật theo thời gian thực, việc dự báo sẽ chủ động hơn rất nhiều", thầy Ngai chia sẻ.
Từ kinh nghiệm quản lý, thầy Ngai cho rằng quan trọng nhất là phải phân định rõ trách nhiệm nhưng đồng thời phải tạo được cơ chế phối hợp thực chất. Mục tiêu cuối cùng không phải là xác định khi thiếu sách thì ai chịu trách nhiệm, mà phải xây dựng được cơ chế để tình trạng thiếu sách không xảy ra hoặc nếu có biến động thì được phát hiện và xử lý đủ sớm. Khi đó, trách nhiệm của địa phương, nhà trường, cơ quan quản lý nhà nước và nhà xuất bản đều phải được xác định ngay từ đầu, có thời hạn, có đầu mối và có cơ chế kiểm tra, giám sát cụ thể", nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận.