Những con số biết nói về biên chế giáo viên, giảng viên cơ hữu trên cả nước

01/01/2026 06:19
Linh An
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Tỉ lệ giảng viên đại học cơ hữu có trình độ tiến sĩ đạt 36%; tỉ lệ giảng viên có học hàm phó giáo sư và giáo sư lần lượt là 6,4 % và 0,8%.

Năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Quốc hội thông qua Luật Nhà giáo, đây là luật chuyên ngành đầu tiên quy định đầy đủ về vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ và các chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo. Luật Nhà giáo có hiệu lực từ hôm nay (01/01/2026).

Theo đó, đã chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo thông qua hệ thống chức danh gắn với chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo; làm rõ quyền và nghĩa vụ của nhà giáo theo hướng tăng quyền chủ động, sáng tạo và tăng tính bảo vệ nhà giáo trong hoạt động nghề nghiệp; quy định việc tuyển dụng nhà giáo bảo đảm phải có thực hành sư phạm nhằm lựa chọn người có đủ năng lực gắn với chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, đáp ứng hoạt động nghề nghiệp nhà giáo theo từng cấp học, trình độ đào tạo; chính sách tiền lương, đãi ngộ, hỗ trợ nhà giáo được quan tâm, tạo điều kiện ở mức tốt nhất trong bối cảnh hiện nay; giao quyền chủ động cho ngành giáo dục trong tuyển dụng, sử dụng nhà giáo.

Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành theo thẩm quyền các thông tư quy định Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tư vấn học sinh; quy định chế độ làm việc giáo viên mầm non, phổ thông; quy định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương hai cấp đối với lĩnh vực nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phục vụ triển khai thực hiện chính quyền địa phương hai cấp;...

Về công tác tuyển dụng và bổ sung biên chế

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Nội vụ đề xuất Trung ương bổ sung 10.304 biên chế giáo viên cho năm học 2024 - 2025 (đây là phần còn lại trong tổng số 65.980 biên chế giáo viên được bổ sung cho các địa phương trong giai đoạn 2022 - 2026). Như vậy, giai đoạn 2022 - 2026 ngành Giáo dục được bổ sung thêm 65.980 biên chế giáo viên, cộng với 42.774 biên chế giáo viên chưa sử dụng của năm 2021, do đó giai đoạn 2022 - 2026 cả nước còn được tuyển dụng 108.754 biên chế giáo viên. Tuy nhiên từ năm 2022 đến năm 2025, cả nước mới tuyển bổ sung được khoảng 60.000 giáo viên, do đó còn khoảng 50.000 biên chế chưa tuyển dụng và 10.000 biên chế bổ sung số giáo viên nghỉ hưu.

Kết quả, đến hết năm học 2024 - 2025, cấp học mầm non, phổ thông cả nước có 98.903 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và 1.273.355 giáo viên (trong đó, số giáo viên mầm non là 388.591, tiểu học là 408.875, trung học cơ sở là 312.814, trung học phổ thông là 163.075). So với năm 2021, số lượng giáo viên các cấp học mầm non, phổ thông tăng thêm 24.788 giáo viên (công lập tăng 4.586 giáo viên, ngoài công lập tăng 20.202 giáo viên), cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập giảm 1.333 người. Theo đó, tỉ lệ bình quân giáo viên/lớp tiếp tục được tăng lên, tuy nhiên vẫn thấp hơn định mức quy định.

1.png
Tỉ lệ bình quân giáo viên/lớp các cấp học năm 2025. Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo

Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện các đề án đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học đã được phê duyệt nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng các yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Các địa phương đã triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông theo đúng quy định.

Kết quả, tính đến hết năm học 2024 - 2025, tỉ lệ đạt chuẩn được đào tạo theo Luật Giáo dục 2019 của giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non là 90,5%, cấp tiểu học là 91,9%, cấp trung học cơ sở là 94,8%, trung học phổ thông 99,9% (so với năm học 2023-2024, tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn theo Luật Giáo dục 2019 ở cấp mầm non tăng thêm 1,2%, cấp tiểu học tăng thêm 2,0%, cấp trung học cơ sở tăng thêm 1,0%). Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

2.png
Tỉ lệ đạt chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên các cấp học. Nguồn: Bộ giáo dục và Đào tạo

Đến nay, cả nước có 82.988 nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, trong đó, có 34.281 giảng viên tại các trường cao đẳng, 13.212 giáo viên tại các trường trung cấp, 27.047 giáo viên tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 8.448 nhà giáo tại các cơ sở khác có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp.

Theo điều tra năm 2022, tỉ lệ nhà giáo đạt chuẩn dạy tích hợp (cả lý thuyết và thực hành) đạt 90,5%, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo năng lực thực hiện để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục nghề nghiệp; 100% nhà giáo các trường được đầu tư thành trường chất lượng cao đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ kỹ năng nghề, trình độ ngoại ngữ của nhà giáo được kiểm tra đánh giá, kiểm tra và đạt chuẩn kỹ năng nghề tăng rõ rệt qua 10 năm. Số lượng chương trình, tài liệu bồi dưỡng kỹ năng nghề để dạy thực hành cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tăng. Công tác chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp được tăng cường, đặc biệt đối với các ngành, nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.

Đội ngũ giảng viên đại học năm 2025 có 125.642 người; trong đó giảng viên cơ hữu có 87.444 người. Tỉ lệ giảng viên đại học cơ hữu có trình độ tiến sĩ đạt 36%; tỉ lệ giảng viên có học hàm phó giáo sư và giáo sư lần lượt là 6,4 % và 0,8%.

8-4306.jpg
Ảnh minh họa: L.A

Nhìn chung, trong giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống cơ chế, chính sách về đội ngũ nhà giáo ngày càng được hoàn thiện và có bước đột phá với việc được Bộ Chính trị và Quốc hội ban hành chủ trương chung về chính sách ưu đãi, đặc thù, vượt trộ và với việc ban hành Luật Nhà giáo. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mầm non, phổ thông cơ bản được chuẩn hóa, từng bước bảo đảm về số lượng; đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học ngày càng nâng cao về chất lượng. Các địa phương, cơ sở giáo dục đã cơ bản thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (như: chi trả tiền lương và các chế độ phụ cấp, công tác bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, thăng hạng chức danh nghề nghiệp, công tác tôn vinh, khen thưởng nhà giáo… ), tạo động lực quan trọng thúc đẩy để đội ngũ nhà giáo không ngừng đổi mới, sáng tạo, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, nhiều địa phương, cơ sở giáo dục có các chính sách riêng để thu hút, hỗ trợ nhà giáo.

Để bảo đảm biên chế giáo viên mầm non, phổ thông trong giai đoạn 2026 - 2030, hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng báo cáo Thường trực Ban Bí thư về nhu cầu biên chế giáo viên đến năm 2030 trên cơ sở báo cáo kế hoạch phát triển trường, lớp và nhu cầu biên chế giáo viên đến năm 2030 của các địa phương. Đồng thời, phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng báo cáo rà soát và đề xuất biên chế giáo viên giai đoạn 2026 - 2030 để báo cáo Trung ương xem xét, phê duyệt.

Bộ Giáo dục và Đào tạo thừa nhận, tình trạng thiếu giáo viên còn diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương, đặc biệt là giáo viên mầm non, giáo viên dạy các môn mới, môn tích hợp ở trung học cơ sở và giáo viên tiếng Anh ở vùng khó khăn. Tính đến hết năm học 2024 - 2025, cả nước còn thiếu 102.097 giáo viên các cấp học mầm non, phổ thông trong biên chế so với định mức quy định. Việc tuyển dụng của các địa phương còn chậm, chưa tuyển dụng hết số biên chế được giao. Chất lượng đội ngũ chưa đồng đều giữa các vùng, miền, còn khoảng cách lớn giữa vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và vùng thuận lợi.

Linh An