Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” đang được nhiều địa phương quan tâm triển khai nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị nguồn nhân lực hội nhập. Tại tỉnh Cao Bằng - một địa phương miền núi còn nhiều khó khăn, chủ trương này càng được đặt ra với quyết tâm cao.
Ngày 2/3, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng chỉ đạo thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”, nhằm từng bước tháo gỡ những rào cản về nguồn lực, điều kiện dạy học, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận ngoại ngữ cho học sinh, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.
Thiếu giáo viên, việc dạy và học tiếng Anh ở nhiều trường vùng cao gặp khó
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Đàm Thị Yến - Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Quang (xã Lý Bôn, tỉnh Cao Bằng) cho biết, dù nhà trường vẫn triển khai chương trình theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, song điều kiện thực tế còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về đội ngũ giáo viên.
Hiện nay, toàn trường có 23 lớp với 557 học sinh, nhưng chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh, phụ trách giảng dạy ở cấp trung học cơ sở. Việc dạy học vẫn được thực hiện theo chương trình chính khóa với 3 tiết/tuần.
Tuy nhiên, do thiếu giáo viên, việc tổ chức dạy tiếng Anh ở cấp tiểu học gặp nhiều khó khăn. Theo cô Yến, trước đây nhà trường từng bố trí giáo viên tiếng Anh duy nhất của trường dạy thêm bậc tiểu học để đảm bảo chương trình, nhưng do số tiết quá nhiều nên việc giảng dạy chỉ mang tính chất “hoàn thành chương trình”, khó đảm bảo chất lượng.
“Cô giáo dạy cấp trung học cơ sở phải gánh rất nhiều tiết, nên việc dạy thêm ở tiểu học gần như chỉ để các em học theo chương trình, chứ chưa thể nói đến hiệu quả. Để khắc phục phần nào tình trạng này, năm học 2025 - 2026, nhà trường đã phối hợp với một số trường trong xã đề xuất lên Uỷ ban nhân dân xã phương án tổ chức học tiếng Anh trực tuyến cho học sinh tiểu học, kết nối với giáo viên của một trường tiểu học khác ở khu vực trung tâm xã.
Tuy vậy, theo đánh giá của nhà trường, hình thức này cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Việc học online trong điều kiện cơ sở vật chất và đường truyền còn hạn chế nên cũng không thể đạt chất lượng như mong muốn", cô Yến bộc bạch.
Đặc thù học sinh của trường cũng khiến việc học ngoại ngữ trở nên thách thức hơn. Gần như 100% học sinh là người dân tộc thiểu số, chủ yếu là các dân tộc Tày, Mông, Dao; số học sinh người Kinh chỉ chiếm rất ít, khoảng 1 - 2 em.
Theo cô Yến, nhiều học sinh còn gặp khó khăn ngay trong việc sử dụng tiếng Việt, do đó việc tiếp cận với một ngôn ngữ mới như tiếng Anh càng trở nên khó khăn hơn. Chưa kể, việc dạy tiếng Anh trong điều kiện thiếu thốn lại càng khiến khả năng tiếp thu của học sinh không đạt hiệu quả. Ngoài ra, trường còn có hai điểm trường tiểu học cách điểm trường chính vài cây số. Điều kiện đi lại và cơ sở vật chất tại các điểm trường còn nhiều hạn chế nên hoạt động tổ chức dạy học tiếng Anh cho học sinh tại đây cũng gặp nhiều thách thức.
Thầy Nguyễn Xuân Bách - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Phong (xã Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng) cũng chia sẻ, việc dạy và học tiếng Anh tại trường hiện đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về đội ngũ giáo viên. Dù là trường có hai cấp học gồm tiểu học và trung học cơ sở, nhưng hiện toàn trường chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh.
“Để đảm bảo việc học tập của học sinh, nhà trường phải bố trí giáo viên này dạy cho cả hai cấp học. Tức là một cô giáo phụ trách dạy tiếng Anh cho toàn bộ học sinh của trường. Hiện trường có 12 lớp với tổng số 327 học sinh, nhưng với chỉ một giáo viên tiếng Anh, việc sắp xếp thời khóa biểu và đảm bảo tiến độ chương trình gặp nhiều áp lực. Để khắc phục phần nào khó khăn, nhà trường phải áp dụng giải pháp ghép lớp trong các tiết học tiếng Anh.
Cụ thể, với những khối có hai lớp như 6A và 6B, học sinh sẽ được ghép lại để học chung trong một tiết. Đây là giải pháp tình thế nhằm đảm bảo các em vẫn được học đủ chương trình. Tuy nhiên, việc học ghép lớp khiến không gian lớp học trở nên chật chội, giáo viên khó bao quát, khả năng tiếp thu của học sinh cũng bị ảnh hưởng. Dù vậy, trong điều kiện hiện nay, nhà trường gần như không còn lựa chọn nào khác”, thầy Bách nói.
Thầy Nguyễn Đức Bộ - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Cao (xã Nam Quang, tỉnh Cao Bằng) cho biết, việc triển khai dạy và học tiếng Anh tại nhà trường hiện gặp rất nhiều khó khăn do thiếu giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế.
Nam Quang là xã vùng III, thuộc diện đặc biệt khó khăn của địa phương. Người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp như làm nương, làm ruộng, trồng lúa, trồng ngô; chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê và gia cầm. Đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Trong điều kiện đó, học sinh của trường hầu hết là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Theo thầy Bộ, 100% học sinh của trường là người dân tộc thiểu số, trong đó khoảng 70% thuộc diện hộ nghèo, nên các em hầu như không có điều kiện tiếp xúc với ngoại ngữ trong đời sống hằng ngày.
Tuy nhiên, thực tế tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Cao cho thấy nhiều khó khăn trong việc tổ chức dạy học môn tiếng Anh. Nhà trường hiện chưa có giáo viên tiếng Anh, cả ở dạng biên chế lẫn hợp đồng.
Điều này khiến việc dạy học tiếng Anh ở cấp trung học cơ sở gần như bị “treo”. Để đảm bảo học sinh vẫn được tiếp cận với chương trình môn học, nhà trường phải xoay xở bằng hình thức dạy học trực tuyến, khi "nhờ" một giáo viên tiểu học ở trường khác dạy trực tuyến cho 5 trường cùng lúc.
“Cô giáo đó sẽ dạy tại trường nơi mình công tác rồi phát trực tuyến kết nối đến các trường khác cũng đang thiếu giáo viên. Đây chỉ là giải pháp tạm thời để học sinh có thể học theo chương trình”, thầy Bộ cho biết.
Nhiều kỳ vọng với sự vào cuộc của Ban Chỉ đạo triển khai Đề án
Trước chủ trương triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”, thầy Nguyễn Đức Bộ đánh giá đây là một định hướng chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Việc tỉnh Cao Bằng thành lập Ban Chỉ đạo triển khai đề án cũng cho thấy sự quan tâm của địa phương đối với công tác dạy và học tiếng Anh.
“Các trường ở cơ sở như chúng tôi rất mong chờ những giải pháp cụ thể để hỗ trợ trong thời gian tới. Việc học tiếng Anh hiện nay là xu hướng chung của cả nước. Khi tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo để triển khai đề án, đó là tín hiệu rất tốt. Khi có sự chỉ đạo ở cấp tỉnh, cùng với những chia sẻ từ các cơ sở giáo dục sẽ giúp cơ quan quản lý hiểu rõ hơn về thực tế. Chắc chắn khi triển khai đề án, tỉnh sẽ phải khảo sát, tổng hợp số liệu giáo viên các trường. Những thông tin từ cơ sở sẽ giúp tỉnh nắm rõ tình hình và ban hành các chính sách thúc đẩy sát sao hơn”, thầy Bộ nói thêm.
Về phía cô Đàm Thị Yến, nữ nhà giáo cũng đánh giá việc tỉnh Cao Bằng thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Đề án là chủ trương cần thiết, rất đáng kỳ vọng.
Tuy nhiên, cô phó hiệu trưởng cũng cho rằng việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa sẽ không hề dễ dàng. Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh. Trước hết, phải có đủ giáo viên thì việc triển khai mới có thể thuận lợi. Nếu tình trạng thiếu giáo viên vẫn như hiện nay thì rất khó để thực hiện mục tiêu lớn như vậy.
Riêng tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Quang, nhà trường đang cần tuyển thêm ít nhất một giáo viên tiếng Anh có thể dạy cả hai cấp học. Điều này không chỉ giúp đảm bảo chương trình cho học sinh tiểu học mà còn giảm tải cho giáo viên đang giảng dạy ở cấp trung học cơ sở.
Tuy nhiên, dù có chỉ tiêu tuyển dụng, nhà trường vẫn gặp khó khăn do không có nguồn giáo viên đăng ký. Theo cô Yến, đây là tình trạng chung ở nhiều địa phương vùng cao. Nữ phó hiệu trưởng chia sẻ, cô đã có 20 năm công tác tại địa phương, chứng kiến nhiều thế hệ học sinh trưởng thành, có em học đại học và thành đạt. Tuy nhiên, số học sinh là người bản địa sau khi học xong đại học sư phạm rồi quay trở về công tác tại địa phương vẫn rất ít, đặc biệt là ở các môn như tiếng Anh.
Về phía Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Phong, không chỉ thiếu giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy học tiếng Anh tại trường cũng còn rất hạn chế. Hiện nay, trường chưa có phòng học ngoại ngữ chuyên biệt, nên việc giảng dạy chủ yếu diễn ra trong các phòng học thông thường.
"Để triển khai hiệu quả mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh theo định hướng của đề án, nhà trường cần được tăng cường cả về nhân lực lẫn cơ sở vật chất. Trước hết, trường cần bổ sung thêm ít nhất 1 giáo viên tiếng Anh cho cấp trung học cơ sở để đảm bảo đúng định mức. Bên cạnh đó, rất cần đầu tư thêm cơ sở vật chất, đặc biệt là phòng học ngoại ngữ và các thiết bị phục vụ giảng dạy”, thầy nói.
Thực tế, hằng năm nhà trường đều có báo cáo, đề xuất nhu cầu tuyển thêm giáo viên tiếng Anh. Tuy nhiên, việc tuyển dụng gặp nhiều khó khăn do không có nguồn ứng tuyển. Từ thực tế này, nhà trường mong muốn thời gian tới, Ban Chỉ đạo triển khai Đề án sẽ có thêm các chính sách và giải pháp để thu hút giáo viên về công tác tại vùng cao, đồng thời tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt hơn cho việc dạy và học tiếng Anh tại địa phương.