Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Theo quy định, đối với sinh viên đại học, mức học bổng từ 3,7 đến 5 triệu đồng/tháng tùy nhóm ngành và chương trình đào tạo. Đối với học viên trình độ thạc sĩ, mức học bổng từ 5,5 đến 7,4 triệu đồng/tháng. Đối với nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ, mức học bổng cao nhất lên tới 8,4 triệu đồng/tháng đối với chương trình đào tạo tài năng, chương trình đào tạo ngành vi mạch bán dẫn và các ngành khoa học cơ bản.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục, Nghị định là công cụ đắc lực giúp nhà trường giải quyết bài toán tuyển sinh các ngành mà xã hội đang có nhu cầu nhưng nhiều năm qua chưa thực sự thu hút người học.
Khắc phục điểm nghẽn tài chính, là công cụ đắc lực giúp trường đại học giải bài toán tuyển sinh
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Thuần - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (VMU) nhấn mạnh: Nghị định số 179 là “đòn bẩy” cho đào tạo ngành công nghệ chiến lược. Điều này trực tiếp thúc đẩy việc thu hút những thí sinh có năng lực học tập xuất sắc vào các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược của các trường nói chung và Trường Đại học Hàng hải Việt Nam nói riêng.
Để được hưởng học bổng, người học phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao như: đạt giải Nhất, Nhì, Ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia/quốc tế hoặc có tổng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ 22,50 điểm trở lên và thuộc nhóm 30% thí sinh có điểm trúng tuyển cao nhất toàn quốc trong cùng nhóm ngành. Điều này đảm bảo nguồn sinh viên đầu vào của các ngành kỹ thuật then chốt sẽ là những cá nhân xuất sắc nhất.
Học bổng được cấp theo từng năm học dựa trên kết quả rèn luyện. Sinh viên phải duy trì kết quả học tập từ loại khá trở lên và tích lũy đủ số tín chỉ quy định mới được tiếp tục hưởng hỗ trợ. Cơ chế này tạo ra một môi trường học tập cạnh tranh, buộc sinh viên phải liên tục nỗ lực để giữ vững mức hỗ trợ tài chính hấp dẫn.
Theo thầy Thuần, chính sách này là công cụ đắc lực giúp nhà trường giải quyết bài toán tuyển sinh cho các ngành vốn được cho là có độ khó cao và thời gian đào tạo dài. VMU hiện đào tạo nhiều ngành thuộc danh mục được hỗ trợ như: Công nghệ thông tin (nhóm 8), Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật (nhóm 9), Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông (nhóm 10), Xây dựng (nhóm 15).
Với mức học bổng 3.700.000 đồng/tháng cho các ngành kỹ thuật then chốt, nhà trường có lợi thế rất lớn để thu hút thí sinh có kết quả học tập tốt vào các ngành này. Việc thực hiện chính sách học bổng theo Nghị định 179 giúp VMU thực hiện sứ mệnh đào tạo nhân lực phục vụ chiến lược kinh tế biển của đất nước.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Đắc Nhường - Trưởng khoa, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Hải Phòng cho biết: “Tôi đánh giá Nghị định 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược là một cú hích tuyển sinh rất quan trọng, nâng chất lượng đầu vào và cải thiện chất lượng đầu ra chương trình đào tạo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Tác động tích cực lớn nhất là sự thay đổi cấu trúc động cơ lựa chọn ngành của người học; thúc đẩy mặt bằng điểm chuẩn và năng lực đầu vào; tạo động lực học tập, rèn luyện, khuyến khích người học tham gia nghiên cứu để duy trì học bổng theo kết quả học tập đạt được.
Điểm lưu ý quan trọng của chính sách là không cấp đại trà cho mọi sinh viên trúng tuyển. Cụ thể, với bậc đại học, ngoài nhóm tài năng/vi mạch, người học cần đạt một trong các điều kiện như giải học sinh giỏi quốc gia/quốc tế hoặc tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ 22,5 trở lên, đồng thời thuộc nhóm 30% thí sinh có điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc.
Tiêu chí này sẽ giúp nâng chất lượng và thay đổi cấu trúc nguồn tuyển hướng đến nhóm thí sinh điểm cao, thu hút nhóm học sinh có nền tảng Toán, tiếng Anh, tư duy logic tốt đáp ứng yêu cầu của các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt. Người học sẽ không còn hỏi ngành này học gì, ra làm gì, mà sẽ hỏi: “Em có đủ điều kiện nhận học bổng không?”, “Làm sao giữ học bổng?”…
Đánh giá về mức học bổng trong Nghị định, thầy Nhường cho rằng đây là mức đủ mạnh để tạo thay đổi hành vi chọn ngành, nhất là với sinh viên các tỉnh/thành phố ngoài Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và với gia đình có thu nhập trung bình.
Mức 3,7 triệu đồng/tháng trong 10 tháng tương đương 37 triệu đồng/năm, nếu duy trì 4 năm là khoảng 148 triệu đồng. Với mức 4,2 triệu đồng/tháng, con số là 42 triệu đồng/năm, 4 năm khoảng 168 triệu đồng. Đây không còn là học bổng mang tính biểu tượng mà là một hỗ trợ tài chính thực chất, thể hiện sự quan tâm đồng hành của Nhà nước cùng người học trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ hiện nay.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Thuần đánh giá các mức học bổng này là một "đòn bẩy tài chính" mạnh mẽ và chưa từng có, có khả năng thay đổi căn bản tâm lý chọn ngành của thí sinh.
Cụ thể, mức hỗ trợ từ 3,7 đến 5,5 triệu đồng/tháng đối với sinh viên và lên tới 8,4 triệu đồng/tháng đối với nghiên cứu sinh được thiết kế dựa trên tiêu chí đảm bảo "chi phí học tập, sinh hoạt tối thiểu" và có "tính khuyến khích cao" đối với các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt trong điều kiện chi phí sinh hoạt cũng như chi phí học tập tại Hải Phòng.
Việc mức học bổng tăng dần theo trình độ đào tạo (thạc sĩ tài năng mức 7,4 triệu đồng/tháng) là động lực rất lớn để sinh viên VMU theo đuổi các Chương trình định hướng tích hợp thạc sĩ mà nhà trường đang triển khai như Cơ khí thông minh và robot, Tự động hóa & điều khiển thông minh.
Ngoài hỗ trợ tài chính cần có môi trường thuận lợi để thúc đẩy người học nghiên cứu khoa học
Bên cạnh hỗ trợ tài chính, để thực sự thu hút và giữ chân "nhân tài" trong các lĩnh vực STEM và công nghệ chiến lược, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam cho biết, nhà trường sẽ phối hợp với các cơ quan quản lý và doanh nghiệp thực hiện các giải pháp đồng bộ.
Theo đó, Nghị định 179 yêu cầu học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh phải có "kết quả nghiên cứu và công bố khoa học". Nhà trường có thể thúc đẩy việc này thông qua các cuộc thi nghiên cứu khoa học, đặt hàng nghiên cứu khoa học hoặc tạo điều kiện cho người học tham gia vào các dự án hợp tác quốc tế.
Nhà trường cũng tăng cường kết nối 3 nhà "Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp" để có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho người học, đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao cung cấp ra thị trường lao động. Việc cam kết đầu ra tại các doanh nghiệp công nghệ cao hoặc các tổ chức quốc tế sẽ là "thỏi nam châm" thực sự thu hút người học có năng lực.
Bên cạnh đó, nhà trường tăng cường đầu tư cơ sở vật chất thông qua thu hút đầu tư, tài trợ từ doanh nghiệp, tạo môi trường học thuật để người học có thể phát huy tốt năng lực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo của người học ngay khi còn ở trường.
"Mức học bổng theo Nghị định 179 là điều kiện cần, nhưng điều kiện đủ để thu hút người học nằm ở sự kết hợp giữa hỗ trợ tài chính với một hệ sinh thái học thuật hiện đại, nơi người học được làm chủ công nghệ và nhìn thấy lộ trình nghề nghiệp rõ ràng trong tương lai", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Thuần nhấn mạnh.
Trong khi đó, để biến chính sách thành lợi thế cạnh tranh thật sự, theo Trưởng khoa, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Hải Phòng, các trường và khoa cần truyền thông rõ điều kiện hưởng học bổng, xây dựng chương trình đào tạo khác biệt, cam kết điều kiện học tập, tạo môi trường học thuật đủ mạnh cho sinh viên cùng những giải pháp cụ thể để chính sách đi vào thực tế, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đào tạo nhân lực các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Còn theo Tiến sĩ Đỗ Minh Trang - Giảng viên Khoa Công trình, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, thông tin về mức học bổng dành cho nghiên cứu sinh (lên tới 8,4 triệu đồng/tháng đối với chương trình đào tạo tài năng, ngành vi mạch bán dẫn và các ngành khoa học cơ bản) sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực.
Trước hết nó đã giải tỏa gánh nặng tài chính cho các nghiên cứu sinh. Rào cản lớn nhất khiến các kỹ sư giỏi, các thạc sĩ trẻ có năng lực ngần ngại học lên tiến sĩ chính là áp lực tài chính ở độ tuổi trưởng thành (thường từ 25-35 tuổi, độ tuổi đã có gia đình). Mức học bổng này là một nguồn sinh hoạt phí vô cùng thiết thực, giúp các nhà khoa học trẻ yên tâm dồn 100% tâm huyết cho phòng thí nghiệm. Đồng thời, mức học bổng này cũng tạo cú hích cho công tác tuyển sinh ngành kỹ thuật.
“Riêng với Khoa Công trình, tôi kỳ vọng chính sách này thu hút thêm nhiều kỹ sư xuất sắc quay trở lại trường học bậc thạc sĩ và tiến sĩ. Từ đó, chất lượng đầu vào và hàm lượng khoa học của các công trình nghiên cứu sẽ được nâng tầm rõ rệt”, nữ giảng viên bày tỏ.
Tuy nhiên, theo cô Trang, học bổng cao là điều kiện "cần" để thu hút người học, nhưng để giữ chân và biến họ thành những chuyên gia đầu ngành thì cần thêm các điều kiện "đủ".
Nữ giảng viên đề xuất cần đồng bộ hóa hạ tầng nghiên cứu. Nhà nước và nhà trường cần song song đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại (như phòng thí nghiệm cơ học đất, sức bền vật liệu, mô phỏng kết cấu...). Có học bổng tốt mà thiếu máy móc, thiết bị đo đạc chuẩn xác thì nghiên cứu sinh cũng khó lòng thực hiện được các công bố quốc tế chất lượng cao (ISI/Scopus).
Bên cạnh đó cần có cơ chế quản lý vừa nghiêm minh vừa linh hoạt: Quy định hoàn trả học bổng nếu tự ý bỏ học là cần thiết. Tuy nhiên, trong nghiên cứu kỹ thuật luôn có những rủi ro khách quan (thí nghiệm thất bại, mô hình không đạt kết quả như kỳ vọng ban đầu dẫn đến chậm tiến độ). Do đó, nhà trường cần có hội đồng chuyên môn đánh giá khách quan, có giải pháp đồng hành, hỗ trợ kịp thời thay vì áp dụng chế tài thu hồi một cách cứng nhắc.
Đặc biệt, cần gắn liền đào tạo với đầu ra doanh nghiệp. Cần đẩy mạnh cơ chế hợp tác ba bên để đảm bảo nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp có ngay bệ phóng nghề nghiệp xứng đáng tại các tổng công ty xây dựng, các viện thiết kế lớn, cống hiến trực tiếp cho hạ tầng hàng hải và giao thông nước nhà.