Đào tạo bác sĩ y khoa là lĩnh vực đặc thù, gắn trực tiếp với an toàn người bệnh và hệ thống y tế quốc gia. Những năm gần đây, mạng lưới cơ sở đào tạo bác sĩ ở nước ta mở rộng nhanh, với hơn 30 trường tham gia đào tạo và quy mô tuyển sinh trên phạm vi toàn quốc.
Tuy nhiên, hoạt động kiểm định chất lượng chương trình đào tạo bác sĩ tại Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống, trong đó việc thiếu một bộ tiêu chuẩn kiểm định riêng, phản ánh đúng tính đặc thù của đào tạo y khoa, đang trở thành rào cản đối với quá trình hội nhập giáo dục y khoa sâu rộng.
Kiểm định y khoa: Khoảng trống lớn trong tiến trình hội nhập quốc tế
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Diệp Tuấn - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo là một công cụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đặc biệt có ý nghĩa then chốt đối với lĩnh vực y khoa, bởi đây là một lĩnh vực có tính đặc thù cao, gắn trực tiếp với sức khỏe và tính mạng con người.
Theo Giáo sư sư Trần Diệp Tuấn, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo bác sĩ y khoa có tác động trực tiếp trên hai phương diện. Thứ nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và chất lượng đầu ra của đội ngũ bác sĩ, do tính đặc thù cao của ngành y, đòi hỏi chuẩn mực nghiêm ngặt cả về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Thứ hai, kiểm định là điều kiện quan trọng để thúc đẩy hội nhập quốc tế, tạo cơ sở cho việc công nhận văn bằng, năng lực hành nghề và dịch chuyển nguồn nhân lực y tế trong khu vực và trên thế giới.
Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đang trên đà phát triển, Giáo sư Tuấn cho rằng, việc triển khai kiểm định chất lượng chương trình đào tạo bác sĩ y khoa theo các chuẩn mực quốc tế càng trở nên cấp thiết.
Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quốc Huy - Hiệu trưởng Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế) nhấn mạnh, hội nhập quốc tế trong đào tạo y khoa không thể tách rời việc kiểm định chất lượng chương trình theo các chuẩn mực được quốc tế thừa nhận.
Theo Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy, trên thế giới, Liên đoàn Giáo dục Y khoa Thế giới (World Federation for Medical Education - WFME) đã ban hành bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa, được nhiều quốc gia sử dụng như khung tham chiếu trong đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo.
Theo Giáo sư Huy, tại nhiều quốc gia trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia…, việc kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa được triển khai thông qua các tổ chức kiểm định độc lập trong nước, trên cơ sở áp dụng bộ tiêu chuẩn của WFME và được WFME công nhận về năng lực.
Vị Hiệu trưởng lưu ý, WFME không trực tiếp thực hiện hoạt động kiểm định, mà đóng vai trò xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, đồng thời công nhận các tổ chức kiểm định đủ năng lực chuyên môn để thực hiện kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa. Sau khi được WFME công nhận, các tổ chức kiểm định này mới tiến hành đánh giá và công nhận chương trình đào tạo y khoa của các cơ sở đào tạo trong nước.
“Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nào được WFME công nhận để thực hiện kiểm định chương trình đào tạo y khoa theo chuẩn quốc tế. Đây là một khoảng trống lớn trong tiến trình hội nhập quốc tế của đào tạo y khoa Việt Nam”, Giáo sư Huy thẳng thắn nhìn nhận.
Chuẩn WFME và “chìa khóa” công nhận quốc tế trong đào tạo bác sĩ
Cũng theo Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy, WFME phối hợp xây dựng Danh mục các trường y khoa thế giới (World Directory of Medical Schools), trong đó ghi nhận danh sách các cơ sở đào tạo y khoa đang hoạt động trên toàn cầu. Hiện nay, Việt Nam có hơn 20 trường đào tạo y khoa được liệt kê trong Danh mục này, trong đó có Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế), qua đó tạo điều kiện để người học tốt nghiệp từ các cơ sở này có cơ hội tiếp cận một số chương trình đào tạo sau đại học, chuyên khoa và nội trú ở nước ngoài.
Tuy nhiên, Giáo sư Huy nhấn mạnh, việc được liệt kê trong Danh mục các trường y khoa thế giới chỉ mang ý nghĩa ghi nhận về sự tồn tại và hoạt động hợp pháp của cơ sở đào tạo, không đồng nghĩa với việc chương trình đào tạo y khoa đã được kiểm định chất lượng hay được WFME công nhận.
“Muốn hội nhập quốc tế một cách thực chất, chương trình đào tạo y khoa phải được kiểm định chất lượng theo bộ tiêu chuẩn của WFME, thông qua tổ chức kiểm định được WFME công nhận. Nếu chưa thực hiện kiểm định thì phạm vi và mức độ công nhận ở bình diện quốc tế sẽ bị hạn chế”, thầy Huy phân tích.
Theo Hiệu trưởng Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế), bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo y khoa của WFME hiện được nhiều quốc gia tham chiếu và áp dụng, không chỉ góp phần chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo, mà còn giúp nâng cao uy tín của các cơ sở đào tạo y khoa, mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế, trao đổi học thuật và từng bước tiến tới công nhận tương đương về chất lượng đào tạo.
Việc chương trình đào tạo y khoa chưa được kiểm định theo chuẩn WFME có thể tác động đến khả năng được xem xét công nhận bằng cấp trong một số bối cảnh quốc tế, từ đó ảnh hưởng đến cơ hội việc làm, học tập sau đại học và đào tạo chuyên khoa ở nước ngoài của bác sĩ Việt Nam.
Giáo sư Huy cho biết, hiện nay, sinh viên tốt nghiệp từ một số trường y tại Việt Nam vẫn có thể tham gia các chương trình đào tạo chuyên khoa, nội trú tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, song về dài hạn, các cơ hội này có thể chịu tác động nếu Việt Nam không sớm triển khai kiểm định chương trình đào tạo y khoa theo chuẩn quốc tế.
Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy nhấn mạnh, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo không phải chỉ đơn thuần là một đích đến, mà là một quá trình hai chiều gắn chặt với cải tiến chất lượng. Cơ sở đào tạo chỉ có thể được kiểm định khi chương trình đào tạo đã được nâng cao và chuẩn hóa; ngược lại, kết quả kiểm định chính là sự ghi nhận chính thức, góp phần bảo chứng chất lượng đào tạo trước xã hội.
Cũng theo Hiệu trưởng Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế), chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo y khoa theo chuẩn quốc tế là mắt xích quan trọng trong chuỗi logic từ đào tạo - phát triển đội ngũ nhân lực y tế - nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế đã được đặt ra tại Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cũng như các nghị quyết trụ cột mới đây của Bộ Chính trị, gồm Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Cần tổ chức kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa trong nước được WFME công nhận
Tuy nhiên, Giáo sư Huy cũng chỉ ra một số thách thức lớn trong tiến trình này. Trong khối ngành khoa học sức khỏe, cho đến nay Việt Nam mới chủ yếu có kinh nghiệm triển khai kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn chung cho tất cả các ngành, trong khi chưa có tổ chức kiểm định chuyên biệt cho lĩnh vực y khoa được WFME công nhận. Việc sử dụng các tổ chức kiểm định nước ngoài, dù có thể là một phương án, song còn nhiều hạn chế do thủ tục phức tạp, chi phí cao, đồng thời chưa phản ánh đầy đủ năng lực tự chủ của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Do đó, Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy nhấn mạnh, Việt Nam cần sớm hình thành tổ chức kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa trong nước, đủ năng lực chuyên môn, vận hành theo chuẩn mực quốc tế và được WFME công nhận, qua đó tạo nền tảng cho hội nhập quốc tế thực chất trong đào tạo y khoa.
Để hiện thực hóa mục tiêu hoàn thiện bộ tiêu chuẩn kiểm định y khoa và tiến tới thiết lập tổ chức kiểm định được WFME công nhận, Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy cho rằng, đây là một quá trình dài hơi, đòi hỏi sự nỗ lực và tham gia đồng bộ của nhiều bên liên quan.
Trong đó, về phía các cơ sở đào tạo, chương trình đào tạo y khoa cần được chuẩn hóa một cách thực chất, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho lộ trình kiểm định chất lượng theo chuẩn WFME.
Ở phía hệ thống kiểm định, việc xây dựng và phát triển một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước đủ năng lực và được WFME công nhận được xác định là yêu cầu mang tính nền tảng. Tuy nhiên, theo Giáo sư Huy, đây là nhiệm vụ vượt ra ngoài khả năng tự thân của từng cơ sở đào tạo, cần có sự vào cuộc của nhiều bên liên quan, với vai trò điều phối và định hướng ở tầm quốc gia.
“Trên thực tế, các trường y dược không đứng ngoài tiến trình này. Thời gian qua, Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế), cùng một số cơ sở đào tạo y khoa khác, đã và đang chủ động phối hợp với các tổ chức kiểm định, từng bước chuẩn bị cho lộ trình kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa theo chuẩn WFME”, Giáo sư Nguyễn Vũ Quốc Huy chia sẻ.
Chia sẻ thêm, Giáo sư Trần Diệp Tuấn cũng cho biết, hiện nay, Hội Giáo dục Y học Việt Nam phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước chuẩn bị ban đầu, với sự hỗ trợ của các chuyên gia của Liên đoàn Giáo dục Y khoa Thế giới (WFME), hướng tới xây dựng một tổ chức kiểm định y khoa trong nước, tiến tới được Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng WFME công nhận.
Theo Giáo sư Trần Diệp Tuấn, đề án này có sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đào tạo y khoa trong và ngoài nước, cùng các chuyên gia về bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, nhằm từng bước xây dựng một hệ thống kiểm định chất lượng chương trình đào tạo y khoa tiệm cận chuẩn mực quốc tế, nhưng phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tuy còn nhiều thách thức trong quá trình triển khai, song Giáo sư Tuấn cho rằng, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, sự vào cuộc của cơ quan quản lý nhà nước và nỗ lực chủ động từ các cơ sở đào tạo y dược, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để từng bước tiếp cận và triển khai kiểm định chương trình đào tạo y khoa theo chuẩn quốc tế.
Ở góc độ cơ sở đào tạo, Giáo sư Trần Diệp Tuấn nhấn mạnh, các trường y dược cần bám sát bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo y khoa theo chuẩn WFME, từ đó chủ động cải tiến toàn diện các mặt hoạt động, bao gồm chương trình đào tạo, công tác quản trị, phát triển đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, cũng như nâng cao chất lượng hệ thống bệnh viện, cơ sở thực hành - thực tập. Mặc dù về nguyên tắc, kiểm định chương trình đào tạo y khoa có nhiều điểm tương đồng với các chương trình đào tạo khác, nhưng tính đặc thù của ngành y đòi hỏi yêu cầu cao hơn và cách tiếp cận phù hợp hơn trong quá trình triển khai.
