Nhằm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, ngày 3/4, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc gia với chủ đề “Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học”. Hội thảo diễn ra tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hội thảo đã nhận được gần 50 bài viết tham luận của các cơ quan Trung ương và nhiều cơ sở giáo dục đại học, các chuyên gia trong nước và quốc tế. Kỷ yếu Hội thảo sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác quản lý, theo dõi và tham mưu của các cơ quan Trung ương, các cơ sở giáo dục đại học trong cả nước.
Hội thảo được kỳ vọng góp phần làm rõ vai trò của công nghệ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy hội nhập quốc tế và hiện thực hóa mục tiêu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn mới.
Tham dự hội thảo có sự hiện diện của ông Vũ Thanh Mai - Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Hoàng Đại Nghĩa - Phó Cục trưởng Cục Đào tạo, Bộ Công an; ông Lê Huy Nam - Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Đặng Văn Huấn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo; bà Nguyễn Thị Mai Hữu - Trưởng ban Ban Quản lý Đề án ngoại ngữ Quốc gia.
Về phía Đại học Quốc gia Hà Nội có sự tham gia của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; Tiến sĩ Đỗ Tuấn Minh - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Ngoại ngữ; Tiến sĩ Nguyễn Xuân Long - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ cùng hơn 600 đại biểu đến từ nhiều cơ sở giáo dục đại học, đại diện các công ty, giảng viên, sinh viên tham dự và thảo luận tại hội thảo.
Phát biểu khai mạc, định hướng Hội thảo, ông Vũ Thanh Mai - Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho biết: “Tiếng Anh đã trở thành môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12 trong chương trình giáo dục phổ thông. Ở đại học, nhiều cơ sở đào tạo đã triển khai các chương trình tiên tiến, chương trình chất lượng cao; mở rộng các học phần chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh.
Chủ đề của hội thảo hôm nay đã chỉ ra một hướng đi mang tính đột phá, đó là “giải pháp công nghệ”. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây,… đã và đang làm thay đổi sâu sắc phương thức dạy và học, tái định vị toàn bộ hệ sinh thái giáo dục.
Trên cơ sở đó, để triển khai hiệu quả chủ trương, tôi gợi mở một số định hướng trọng tâm để các cơ quan quản lý, nhà khoa học, cơ sở giáo dục và đại diện doanh nghiệp công nghệ tiếp tục nghiên cứu, thảo luận và đề xuất giải pháp tại hội thảo.
Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò chiến lược của tiếng Anh trong phát triển nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế; chuyển biến mạnh từ tư duy “dạy và học tiếng Anh” sang “dạy và học bằng tiếng Anh”, coi tiếng Anh là công cụ để tiếp cận, sáng tạo tri thức.
Thứ hai, giáo dục đại học phải tiên phong và về đích sớm trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai; tập trung vào các giải pháp công nghệ gắn với chuyển đổi số toàn diện, từng bước tiệm cận chuẩn quốc tế.
Thứ ba, cần xây dựng lộ trình triển khai phù hợp, đồng bộ và khả thi trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong việc dạy và học tiếng Anh.
Thứ năm, phát triển đội ngũ giảng viên và xây dựng môi trường học thuật quốc tế trong các trường đại học.
Thứ sáu, cần tăng cường hợp tác quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trên trường quốc tế thông qua việc mở rộng liên kết đào tạo, công nhận tín chỉ, chương trình liên kết; tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên; tiếp cận và chia sẻ học liệu, chương trình đào tạo tiên tiến”, ông Vũ Thanh Mai cho hay.
Tiếp nối chương trình, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, hội thảo tập trung làm rõ 3 nội dung gồm: Giải pháp công nghệ (Technological Solution); Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai; (English as Second Language); Giáo dục đại học (Higher education).
Đặc biệt, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh hai từ khóa “kết hợp” và “kết nối”. Theo đó, “kết hợp” là đồng thời triển khai 2 nghị quyết lớn của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh “từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học”.
Đề án do Chính phủ ban hành đã đưa ra 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện các mục tiêu. Trong đó ứng dụng công nghệ tiên tiến, trí tuệ nhân tạo (AI) là 1 trong 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp, mà dường như các nhiệm vụ khác cũng không thể tách rời giải pháp công nghệ. Nhiệm vụ xây dựng môi trường tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong trường học,... đều không thể thiếu giải pháp công nghệ. Như vậy, kết hợp giải pháp công nghệ, chúng ta mới có thể thực hiện thành công, đầy đủ các nhiệm vụ đã đề ra.
Thứ hai là “kết nối”. Hội thảo lần này, bên cạnh những nội dung quan trọng được lãnh đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo, cùng các báo cáo tham luận của diễn giả, còn mang ý nghĩa kết nối sâu rộng. Đó là sự kết nối giữa các trường đại học, học viện; trong đó, không chỉ có các cơ sở thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo hay các bộ, ngành khác mà còn có sự tham gia của lãnh đạo các trường đại học, học viện thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Hội thảo cũng là nơi kết nối các chủ thể liên quan, từ cơ quan trung ương của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước đến các cơ sở giáo dục đại học, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp.
Các giải pháp ứng dụng công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số
Trong khuôn khổ hội thảo, đại diện các cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp cùng trao đổi về các giải pháp ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, nghiên cứu và triển khai chính sách ngôn ngữ trong bối cảnh chuyển đổi số.
Tại phiên trình bày tham luận, ông Đặng Văn Huấn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình bày báo cáo "Thực trạng tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy, học tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam". Báo cáo đã tổng kết thực trạng giai đoạn 2022-2025 và đưa ra mục tiêu triển khai giai đoạn mới.
Đánh giá chung các hoạt động chuyển đổi số chính tập trung vào ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá, xây dựng tài liệu, học liệu số và quản lý đào tạo. Việc sử dụng các hệ thống quản lý học tập (LMS) như Moodle, Canva, Google Classroom, Microsoft Teams và các nền tảng họp trực tuyến như Zoom đã trở nên phổ biến, cho phép giảng viên đăng tải tài liệu, tổ chức lớp học ảo, giao bài tập và theo dõi tiến độ học tập của sinh viên. Nhiều trường đã số hóa tài liệu, giáo trình, xây dựng kho học liệu điện tử và khuyến khích sinh viên sử dụng các nguồn tài nguyên trực tuyến.
Các trường đại học công lập quy mô lớn và một số đại học tư thục có sự đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ, xây dựng hệ thống LMS bài bản, thư viện số quy mô và bước đầu ứng dụng các công nghệ tiên tiến như AI, VR/AR. Tỷ lệ giảng dạy trực tuyến tại các trường này có xu hướng cao hơn và có kế hoạch, quy định rõ ràng về việc triển khai dạy học kết hợp. Các trường này cũng thường có các chương trình bồi dưỡng, tập huấn bài bản về ứng dụng công nghệ trong giảng dạy.
Ở nhóm các trường đại học công lập quy mô nhỏ và một số trường tư thục, việc triển khai chuyển đổi số tập trung vào các nền tảng cơ bản như LMS, các công cụ hỗ trợ dạy học trực tuyến phổ biến và số hóa tài liệu. Tỷ lệ giảng dạy trực tuyến có thể thấp hơn hoặc mới bắt đầu triển khai dạy học kết hợp ở một số học phần. Khó khăn rõ hơn về kinh phí và hạ tầng công nghệ.
Đối với nhóm các trường cao đẳng sư phạm, mức độ chuyển đổi số còn hạn chế hơn, chủ yếu tập trung vào việc sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học trực tuyến miễn phí hoặc sẵn có và số hóa tài liệu ở mức cơ bản. Tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất chuyên dụng cho chuyển đổi số và hạn chế về kinh phí là những thách thức.
Về định hướng kế hoạch triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2055 trong giáo dục đại học”, mục tiêu cụ thể giai đoạn 2025-2030 là ít nhất 20% cơ sở giáo dục đại học trên cả nước (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt mức độ 1; 5% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 2 và 3% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 3.
Giai đoạn 2030-2035, ít nhất 30% số cơ sở giáo dục đại học trên cả nước (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt mức độ 1; 20% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 2 và 5% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 3.
Giai đoạn 2035-2045, đến năm 2040 có ít nhất 40% số cơ sở giáo dục đại học trên cả nước (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt mức độ 1; 35% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 2 và 15% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 3. Đến năm 2045, có ít nhất 50% số cơ sở giáo dục đại học trên cả nước (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt mức độ 2 và 25% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 3.
Cũng tại hội thảo, Giáo sư Iwona Miliszewska - Trưởng khoa Khoa Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ và ông Hossein Davari - Trưởng khoa Khoa Tiếng Anh và Chuyển tiếp đại học, Trường Đại học RMIT Việt Nam đã cùng trình bày giải pháp công nghệ hỗ trợ chủ trương đưa Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học - Góc nhìn và sáng kiến từ nhà trường.
Theo ông Hossein Davari, một phương pháp tiếp cận bền vững để triển khai giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh (EMI) có thể được hỗ trợ thông qua một khung tích hợp xoay quanh ba trụ cột chính gồm: sự sẵn sàng của sinh viên, phát triển năng lực giảng viên, cùng công tác quản trị và đảm bảo chất lượng. Khi kết hợp với nhau, những yếu tố này tạo nên nền tảng sư phạm cốt lõi, hỗ trợ hiệu quả cho việc dạy và học trong môi trường ngôn ngữ tiếng Anh.
Thứ nhất, sự sẵn sàng của sinh viên là yếu tố thiết yếu để tham gia thành công vào giáo dục đại học bằng tiếng Anh. Sinh viên không chỉ cần năng lực ngôn ngữ nói chung; họ còn phải phát triển các kỹ năng tiếng Anh học thuật, khả năng giao tiếp chuyên ngành và các chiến lược học tập cần thiết để tiếp cận các nội dung học thuật phức tạp.
Thứ hai, phát triển năng lực giảng viên là then chốt để giúp giảng viên giảng dạy hiệu quả trong môi trường EMI. Giảng viên không chỉ cần thông thạo ngôn ngữ mà còn phải trang bị các chiến lược sư phạm hỗ trợ việc học trong các lớp học đa ngôn ngữ.
Thứ ba, công tác đảm bảo chất lượng và quản trị cung cấp các cấu trúc thể chế hỗ trợ việc triển khai EMI một cách nhất quán và bền vững. Thiết kế chương trình đào tạo hiệu quả, các quy trình quản trị học thuật và cơ chế giám sát kết quả học tập giúp đảm bảo tiêu chuẩn giảng dạy luôn ở mức cao và các đổi mới giáo dục phù hợp với mục tiêu của cơ sở đào tạo.
Tại Trường Đại học RMIT Việt Nam, các yếu tố này được lồng ghép chặt chẽ trong phương pháp giáo dục tiếng Anh của trường. Sự sẵn sàng của sinh viên được hỗ trợ thông qua các chương trình chuyển tiếp và dự bị được thiết kế để chuẩn bị cho người học trước những yêu cầu về ngôn ngữ và học thuật.
Sự kết hợp giữa nền tảng sư phạm vững chắc cùng việc ứng dụng các công nghệ giáo dục và AI có thể là đòn bẩy giúp hệ thống giáo dục Việt Nam đẩy nhanh lộ trình giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh (EMI) mà vẫn đảm bảo được các tiêu chuẩn cao trong giáo dục.
Cũng trong khuôn khổ hội thảo, phiên thảo luận bàn tròn với sự tham gia của lãnh đạo một số trường đại học, chuyên gia và đại diện doanh nghiệp công nghệ đã làm rõ các mô hình triển khai hiệu quả, cơ chế phối hợp giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cũng như các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực đào tạo ngoại ngữ.
Các nội dung thảo luận tập trung vào mô hình ứng dụng AI trong dạy học ngoại ngữ, xây dựng nền tảng số quốc gia, phát triển hệ sinh thái EdTech, cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp, cũng như giải pháp cá nhân hóa học tập và xây dựng môi trường học thuật bằng tiếng Anh. Các đại biểu thống nhất rằng việc triển khai ESL cần gắn chặt với chuyển đổi số toàn diện, trong đó công nghệ và trí tuệ nhân tạo đóng vai trò trung tâm trong nâng cao hiệu quả đào tạo.
Theo chia sẻ từ Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quốc Huy - Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực giáo dục đại học và khoa học sức khỏe, việc tăng cường sử dụng tiếng Anh trong đào tạo đã trở thành một xu hướng tất yếu. Tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế, tiếng Anh ngày càng được chú trọng trong nhiều hoạt động đào tạo ở các bậc học khác nhau, bao gồm đào tạo đại học, sau đại học, đào tạo liên tục và hoạt động/chương trình đào tạo quốc tế.
Trong đào tạo đại học, nhà trường đã có nhiều nỗ lực trong việc tăng cường sử dụng tiếng Anh trong hoạt động dạy và học. Các chương trình đào tạo đã tích hợp các học phần tiếng Anh cơ bản và tiếng Anh chuyên ngành nhằm giúp sinh viên từng bước tiếp cận với thuật ngữ y khoa và tài liệu quốc tế. Sinh viên cũng được khuyến khích sử dụng giáo trình và tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh trong quá trình học tập.
Trong đào tạo sau đại học, tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận tài liệu nghiên cứu, công bố khoa học và trao đổi học thuật quốc tế. Học viên cao học và nghiên cứu sinh thường xuyên sử dụng các tài liệu khoa học bằng tiếng Anh trong quá trình học tập và nghiên cứu. Nhiều số hội thảo khoa học, seminar chuyên ngành được tổ chức bằng tiếng Anh hoặc có sự tham gia của các chuyên gia quốc tế, qua đó tạo điều kiện cho giảng viên và học viên nâng cao năng lực học thuật và khả năng giao tiếp chuyên môn bằng tiếng Anh.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, tiếng Anh đã trở thành công cụ then chốt giúp nhà trường khẳng định vị thế trên bản đồ khoa học trong khu vực và trên thế giới. Giai đoạn 2020 - 2025 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng các công bố quốc tế sử dụng tiếng Anh thuộc danh mục WoS/Scopus. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho năng lực hội nhập của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường.
Để hiện thực hóa các mục tiêu và xây dựng lộ trình từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, các giải pháp lớn bao gồm: hoàn thiện thể chế và cơ chế quản trị; tăng cường công tác truyền thông và nâng cao nhận thức; phát triển đội ngũ; đổi mới chương trình đào tạo và học liệu; cải tiến phương thức kiểm tra, đánh giá; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo; mở rộng hợp tác quốc tế; đồng thời xây dựng cơ chế thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích sự tham gia tích cực của các đơn vị và cá nhân trong toàn trường.
Bên cạnh đó, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hữu - Trưởng ban Ban Quản lý Đề án ngoại ngữ Quốc gia cũng cho rằng việc triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học cần được thiết kế theo hướng phân tầng mục tiêu rõ ràng, nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với sự đa dạng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Toàn bộ quá trình triển khai Đề án cần được gắn chặt với chiến lược tự chủ đại học và mục tiêu nâng cao vị thế của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế. Tự chủ đại học cho phép các trường linh hoạt trong việc thiết kế chương trình đào tạo, xác định tỷ lệ học phần giảng dạy bằng tiếng Anh, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp và thu hút nguồn lực chất lượng cao.
Đồng thời, việc tăng cường sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy và nghiên cứu sẽ trực tiếp góp phần cải thiện các tiêu chí quan trọng trong xếp hạng quốc tế như mức độ quốc tế hóa, uy tín học thuật và số lượng công bố khoa học. Như vậy, tiếng Anh không chỉ là mục tiêu của Đề án mà còn là công cụ quan trọng để thúc đẩy quá trình đổi mới, hội nhập và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong dài hạn.
Khép lại hội thảo, các đại biểu đều thống nhất đánh giá đây là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực, tạo nền tảng quan trọng, thể hiện tính cấp thiết và được tổ chức đúng thời điểm; đồng thời góp phần tăng cường kết nối giữa các bên trong việc triển khai chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học.
Các kết quả của hội thảo sẽ là căn cứ quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hợp tác quốc tế, chuẩn hóa chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, phát triển nền tảng học liệu số quốc gia và xây dựng hệ sinh thái công nghệ giáo dục hiện đại, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi số.