Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học, áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục khác được phép đào tạo sau đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thu hút sự quan tâm và nhận nhiều ý kiến góp ý từ giới chuyên gia, cơ sở đào tạo.
Điểm mới đáng chú ý trong dự thảo là đề xuất cơ chế miễn phản biện độc lập đối với luận án có kết quả nghiên cứu xuất sắc, đạt chuẩn quốc tế cao.
Cụ thể, nghiên cứu sinh có thể được miễn quy trình phản biện độc lập nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện: có tối thiểu 3 bài báo khoa học liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1; nghiên cứu sinh là tác giả chính (đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ); các bài báo được công bố trong thời gian không quá 60 tháng tính đến thời điểm đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn.
Đây được xem là bước điều chỉnh theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế, đồng thời khuyến khích công bố khoa học chất lượng. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng bài báo khoa học đôi khi chỉ phản ánh từng phần kết quả nghiên cứu, chưa thể hiện đầy đủ chất lượng tổng thể của luận án. Do đó, việc duy trì cơ chế phản biện độc lập vẫn được nhìn nhận là cần thiết để bảo đảm tính khách quan và toàn diện trong đánh giá luận án.
Phản biện độc lập bảo đảm góc nhìn đa chiều trong đánh giá luận án
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Thị Huyền, Phó Trưởng khoa Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nghệ An cho rằng có nhiều góc độ khác nhau để đánh giá chất lượng luận án. Việc nghiên cứu sinh có 2 bài báo đăng trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, nhóm Q1, cho thấy chất lượng nghiên cứu ở mức rất cao. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học luôn tồn tại nhiều cách tiếp cận và quan điểm đánh giá khác nhau từ các nhà khoa học. Chính vì thế, phản biện độc lập vẫn cần thiết để mang lại góc nhìn đa chiều cho nghiên cứu sinh.
Đồng thời, ngay cả với các bài báo thuộc nhóm Q1, vẫn cần có hội đồng chuyên môn xem xét mức độ tương thích giữa nội dung bài báo với kết quả nghiên cứu thể hiện trong luận án. Bài báo khoa học thường mang tính tóm lược, khó bao quát toàn bộ nội dung của một luận án có thể lên tới hàng trăm trang.
“Những phần không được thể hiện trong bài báo vẫn cần được phản biện độc lập để bảo đảm chất lượng chung. Có những nội dung trong bài báo đã tốt, nhưng phần nội dung ngoài bài báo, thể hiện trong luận án, vẫn có thể tồn tại sai sót. Vì thế, việc duy trì phản biện độc lập cũng góp phần giúp nghiên cứu sinh hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình”, cô Huyền chia sẻ.
Cũng theo cô Huyền, khi nghiên cứu sinh đã có các công bố khoa học thuộc nhóm Q1, phản biện độc lập có thể thuận lợi hơn trong việc đánh giá và dễ dàng chấp nhận chất lượng luận án.
Phản biện độc lập mang lại góc nhìn khách quan hơn do nghiên cứu sinh hầu như không có sự tiếp xúc trực tiếp với các chuyên gia phản biện, giúp nâng cao tính khách quan trong đánh giá. Hơn nữa, đối với các chuyên gia phản biện độc lập, việc đánh giá những luận án có bài báo Q1 cũng giúp họ có cơ sở đối chiếu, xem xét mức độ tương thích giữa nội dung công bố và nội dung luận án. Nếu không có người đánh giá độc lập, sẽ khó xác định liệu kết quả nghiên cứu đã công bố có phản ánh đầy đủ và chính xác nội dung của luận án hay không.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Linh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận, cần phân tách rõ giữa giá trị học thuật của các công bố quốc tế và yêu cầu bảo đảm chất lượng toàn diện của một luận án tiến sĩ.
Về học thuật, các bài báo quốc tế thuộc nhóm Q1 chắc chắn phản ánh những kết quả nghiên cứu có chất lượng và việc công bố trên các tạp chí uy tín là điều không cần bàn cãi. Tuy nhiên, xét từ góc độ quản lý đào tạo tiến sĩ, những công bố này chỉ phản ánh một phần nội dung của luận án, chưa thể đại diện cho toàn bộ chất lượng công trình.
“Bài báo khoa học chỉ là phần kết quả được lựa chọn, tách ra từ luận án để công bố, mang tính cục bộ và có thể rời rạc. Trong khi đó, luận án tiến sĩ là một chỉnh thể, đòi hỏi đánh giá cả về cấu trúc, logic nghiên cứu và tính nhất quán của toàn bộ quá trình. Chính lẽ đó, việc miễn phản biện độc lập trong trường hợp này là chưa phù hợp. Ý nghĩa của phản biện độc lập là nhằm xem xét tổng thể luận án ở nhiều chiều cạnh khác nhau”, cô Linh phân tích.
Bên cạnh đó, cô Linh cũng nhấn mạnh vai trò đặc biệt của cơ chế phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh. Theo quy định hiện nay, các phản biện độc lập thường là những chuyên gia bên ngoài cơ sở đào tạo, không có sự tiếp xúc trực tiếp với nghiên cứu sinh. Chính điều này giúp bảo đảm tính khách quan, hạn chế nguy cơ nể nang hay các yếu tố tiêu cực trong đánh giá.
“Phản biện độc lập được xem như một “lớp lọc” bên thứ ba, giúp rà soát lại toàn bộ luận án trước khi thông qua. Quá trình này còn xem xét tính đầy đủ, độ tin cậy cũng như sự liền mạch trong toàn bộ công trình.
Việc nghiên cứu sinh có bài báo Q1 mới chỉ cho thấy chất lượng của công bố cụ thể đó. Để hình thành được kết quả này, còn liên quan đến nhiều yếu tố như liêm chính học thuật, quy trình quản lý nghiên cứu sinh và quản lý kết quả nghiên cứu. Vì thế, cùng với công bố quốc tế, việc đánh giá luận án vẫn cần một cơ chế phản biện độc lập, toàn diện”, cô Linh nhấn mạnh.
Cần cân nhắc thận trọng
Đồng tình với những chia sẻ trên, từ góc độ chuyên gia nhiều lần tham gia phản biện độc lập, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Giá - nguyên Trưởng khoa Viết văn - Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng, việc đề xuất miễn phản biện độc lập trong bối cảnh hiện nay cần được cân nhắc hết sức thận trọng.
Bởi, môi trường học thuật trong nước vẫn còn những khoảng trống về liêm chính khoa học. Nên việc nới lỏng một khâu kiểm soát quan trọng như phản biện độc lập có thể vô tình tạo thêm kẽ hở cho các biểu hiện gian dối nảy sinh. Đặc biệt, trong bối cảnh công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo, đang phát triển nhanh, việc xây dựng một bản thảo luận án trong thời gian ngắn không còn là điều quá khó.
Thầy Giá cũng cho hay, quy định miễn phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có các bài báo khoa học công bố trên tạp chí WoS hoặc Scopus, trong đó có bài thuộc nhóm Q1 vào thời điểm này là chưa thật sự phù hợp. Vấn đề đặt ra là hệ thống kiểm soát và văn hóa liêm chính học thuật đã đủ độ tin cậy để có thể dựa hoàn toàn vào những chỉ dấu này hay chưa?
Nhấn mạnh vai trò của phản biện độc lập, thầy Giá cho rằng đây là một khâu kiểm soát chất lượng có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt.
“Không ít trường hợp trong thực tế cho thấy, người hướng dẫn có thể vì nhiều lý do mà dễ dãi trong đánh giá, từ tâm lý nể nang đến việc chưa đặt yêu cầu cao đối với luận án. Trong những tình huống đó, phản biện độc lập đóng vai trò như một bộ lọc cần thiết để bảo đảm chuẩn mực học thuật”, thầy Giá chia sẻ.
Bên cạnh đó, thầy Giá cũng chỉ ra sự khác biệt giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Với khoa học tự nhiên, kết quả nghiên cứu thường dễ kiểm chứng hơn. Trong khi đó, các luận án thuộc khoa học xã hội đòi hỏi đánh giá sâu về lập luận, phương pháp và cách tiếp cận, nên vai trò của phản biện độc lập càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Ngay cả với các bài báo thuộc nhóm Q1 cũng cần được nhìn nhận thận trọng. Có những trường hợp công bố không phản ánh trung thực năng lực của nghiên cứu sinh, có thể liên quan đến vai trò của người hướng dẫn hoặc những biểu hiện tiêu cực như mua bán bài báo. Chưa kể, một bài báo thường chỉ phản ánh một hoặc hai khía cạnh trong khi luận án có thể gồm nhiều chương, bao quát một phạm vi nghiên cứu rộng hơn.