Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh ngày càng gia tăng, ngành Hộ sinh được nhìn nhận là một mắt xích quan trọng, nhưng đang phải đối mặt với thách thức về nguồn nhân lực và chất lượng đào tạo.

Việc một số trường đại học đa ngành tham gia mở ngành đào tạo Hộ sinh những năm gần đây góp phần mở rộng quy mô cung ứng nhân lực, song cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về kiểm soát chuẩn đầu vào, điều kiện thực hành và năng lực giảng dạy.

Theo một số chuyên gia, lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học lĩnh vực sức khỏe, để bảo đảm chất lượng nhân lực và phát triển bền vững, đào tạo ngành Hộ sinh cần được quy hoạch theo hướng tập trung, ưu tiên đào tạo ở những đơn vị có nền tảng chuyên môn lâu năm và hệ thống cơ sở thực hành vững chắc.

Ngành Hộ sinh thiếu nhân lực nhưng không thể đào tạo ồ ạt

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Phong - Trưởng khoa, Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ chia sẻ: “Hộ sinh là một trong những nguồn nhân lực thiết yếu của hệ thống y tế, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy mạng lưới và quy mô đào tạo ngành Hộ sinh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội.

Trên phạm vi cả nước, số lượng cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo ngành học này còn khá khiêm tốn so với nhu cầu nhân lực tại các bệnh viện phụ sản, hay khoa sản từ tuyến cơ sở đến trung ương”.

Trong bối cảnh đó, 2 năm trở lại đây, xuất hiện thêm một số trường đại học đa ngành tham gia mở ngành đào tạo cử nhân Hộ sinh, góp phần mở rộng quy mô cung ứng nhân lực. Tuy nhiên, điểm trúng tuyển vào ngành Hộ sinh tại những trường đại học đa ngành bằng với điểm sàn (ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào) do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cũng đặt ra câu hỏi về chất lượng đầu vào và chuẩn đầu ra giữa các cơ sở giáo dục đào tạo ngành học này.

Theo Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Phong, những yêu cầu về bệnh viện thực hành, điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất cũng cần được quan tâm khi các cơ sở đào tạo mở thêm ngành về sức khỏe. Vì vậy, vấn đề siết chất lượng đào tạo lĩnh vực sức khỏe nói chung và ngành Hộ sinh nói riêng là vô cùng cần thiết, trong đó ưu tiên cho các trường y đảm nhiệm vai trò chính về mở ngành, đào tạo ngành Hộ sinh là cần thiết và có cơ sở.

z7525286035904-6e28650b9a0bbfeb92887a0e4568cf58.jpg
Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Phong - Trưởng khoa, Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Ảnh: website nhà trường.

Phân tích thêm về lợi thế và vai trò của các trường y dược trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo ngành học đặc thù này, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Phong cho hay: “Lợi thế lớn nhất của các trường y đang đào tạo ngành Hộ sinh hiện nay nằm ở đội ngũ giảng dạy. Thực tế tại Việt Nam, đến nay chưa có tiến sĩ ngành Hộ sinh; giảng viên tham gia giảng dạy chủ yếu là đội ngũ có nền tảng chuyên môn sâu, kinh nghiệm lâm sàng lâu năm và quá trình tích lũy học thuật từ các ngành gần như sản phụ khoa hay điều dưỡng. Và đây là điều mà chỉ những cơ sở đào tạo đặc thù về sức khỏe, có bề dày giảng dạy, mới có thể đáp ứng tương đối đầy đủ. So với trường đại học đa ngành, các trường y dược có lợi thế rõ rệt về đội ngũ giảng viên cơ hữu, tính ổn định nhân sự và khả năng tổ chức đào tạo gắn với thực hành.

Một yếu tố then chốt khác trong đào tạo Hộ sinh là hệ thống bệnh viện, cơ sở thực hành cho người học. Các cơ sở thực hành phải có quy mô đủ lớn, hoạt động chuyên sâu về sản - phụ khoa, đồng thời có đội ngũ giảng viên hướng dẫn, cán bộ y tế giàu kinh nghiệm trực tiếp kèm cặp sinh viên.

Các trường đại học đào tạo có ưu thế trong việc sở hữu bệnh viện trực thuộc cũng như mối quan hệ, liên kết với các cơ sở y tế, sinh viên được đảm bảo cơ hội tham gia thực hành thực chất hơn, trực tiếp chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh, tránh tình trạng học nhiều lý thuyết nhưng thiếu trải nghiệm lâm sàng”.

Mặt khác, từ góc độ bảo đảm chất lượng, Trưởng khoa, Khoa Điều dưỡng và Kỹ thuật y học, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cho rằng cần siết chặt ngay từ chuẩn đầu vào.

“Thực tế cho thấy, hộ sinh không chỉ làm việc trong bệnh viện mà tại nhiều địa phương, hộ sinh ở trạm y tế còn có thể đảm nhiệm vai trò quản lý, thậm chí làm trưởng trạm. Do đó, nếu không đặt ra yêu cầu đủ cao ngay từ đầu vào, rất khó kỳ vọng chất lượng đầu ra đáp ứng được yêu cầu chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp ngày càng lớn. Chuẩn đầu vào được kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực hành nghề sau này.

Trên mặt bằng chung, các trường có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm trong lĩnh vực sức khỏe thường bảo đảm chất lượng tốt hơn. Mặc dù nhân lực ngành Hộ sinh còn thiếu nhưng nếu không có sự sàng lọc kỹ lưỡng ngay từ giai đoạn tuyển sinh, nguy cơ đào tạo đại trà, chạy theo số lượng mà xem nhẹ chất lượng là điều khó tránh khỏi.

Vì vậy, cần tập trung đúng vào những cơ sở đủ năng lực và kinh nghiệm, ngành Hộ sinh mới có thể phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hệ thống y tế và xã hội”, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Phong nhìn nhận.

601864327-880715150971662-2999459688329463798-n-1.jpg
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là 1 trong 2 cơ sở giáo dục đại học có chương trình đào tạo Hộ sinh đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Ảnh: website nhà trường.

Đồng quan điểm, Thầy thuốc nhân dân, Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh - Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cho rằng: “Dù thực tế cho thấy nguồn nhân lực Hộ sinh hiện nay vẫn còn thiếu và số lượng cơ sở đào tạo chưa nhiều, song điều đó không đồng nghĩa với việc có thể mở ngành một cách tràn lan.

Bên cạnh đó, việc siết đào tạo không phải là “đóng cửa” hoàn toàn đối với các trường đa ngành trong đào tạo các ngành đặc thù mà đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn về điều kiện tuyển sinh, đội ngũ giảng viên cơ hữu, cơ sở thực hành và mối liên kết với bệnh viện thực hành. Với những cơ sở đào tạo đã mở ngành hoặc còn hạn chế về nguồn lực, cần tăng cường đầu tư bổ sung, hoàn thiện từng bước để nâng cao chất lượng đầu ra, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực ngành y tế”.

7.jpg
Thầy thuốc nhân dân, Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh - Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Ảnh: website nhà trường.

Chia sẻ thêm về cơ sở thực hành cho sinh viên ngành Hộ sinh, Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Tuấn Anh đánh giá, hệ thống y tế hiện nay cơ bản đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu đào tạo thực hành, bởi hầu hết các tỉnh, thành đều có bệnh viện phụ sản hoặc khoa sản thuộc bệnh viện đa khoa, bên cạnh đó là các bệnh viện tuyến trung ương và nhiều bệnh viện chuyên khoa lớn.

“Trong bối cảnh quy mô tuyển sinh ngành Hộ sinh hiện nay chưa quá đông, mạng lưới cơ sở y tế trên cả nước hoàn toàn có thể bảo đảm môi trường thực hành cho sinh viên nếu được tổ chức, phân bổ hợp lý và có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và bệnh viện.

Vấn đề cốt lõi còn nằm ở mức độ gắn kết và phối hợp thực chất giữa nhà trường với cơ sở y tế trong tổ chức đào tạo. Thực hành chỉ thực sự hiệu quả khi có sự thống nhất về chương trình, sự tham gia chặt chẽ của đội ngũ giảng viên thỉnh giảng tại bệnh viện, cũng như cơ chế giám sát, đánh giá rõ ràng đối với quá trình rèn luyện của sinh viên.

Ở phương diện này, các trường đại học chuyên biệt trong lĩnh vực sức khỏe, đặc biệt là những cơ sở có bệnh viện trực thuộc hoặc mối liên kết truyền thống, bền chặt với hệ thống bệnh viện rõ ràng có lợi thế hơn về tổ chức đào tạo lâm sàng, điều phối nhân lực hướng dẫn và bảo đảm tính liên tục giữa lý thuyết và thực hành”, Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định nêu quan điểm.

488272074-1383357066301062-8697088151249656996-n-1.jpg
Sinh viên ngành Hộ sinh, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Ảnh: website nhà trường.

Tập trung vào trường có truyền thống đào tạo lĩnh vực sức khỏe để bảo đảm chất lượng

Từ góc nhìn của người trực tiếp giảng dạy, đào tạo tại trường đại học, đồng thời tham gia công tác chuyên môn tại khoa sản của một số bệnh viện như Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương, Thầy thuốc nhân dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Huỳnh Nguyễn Khánh Trang - Trưởng Bộ môn Sản Phụ khoa, Khoa Y (Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) cho biết, theo các khuyến nghị chuyên môn và kế hoạch chuẩn, tỷ lệ nhân lực hợp lý cần hướng tới trong lĩnh vực sản - nhi là 1 bác sĩ đi kèm với 4 hộ sinh.

“Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệ này vẫn chưa đạt được tại nhiều cơ sở y tế, không chỉ ở tuyến cơ sở mà ngay cả tại một số bệnh viện tuyến trung ương. Sự thiếu hụt này cho thấy nhu cầu về nhân lực hộ sinh vẫn đang ở mức cao và mang tính cấp thiết.

Không chỉ trong nước, nhu cầu nhân lực hộ sinh còn gia tăng mạnh tại nhiều quốc gia phát triển. Ở không ít hệ thống y tế, điều dưỡng và hộ sinh thậm chí được ưu tiên tuyển dụng hơn cả bác sĩ, bởi đây là lực lượng trực tiếp chăm sóc, theo dõi người bệnh thường xuyên, góp phần giảm tải cho bác sĩ và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Trong bối cảnh dân số già hóa, nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản ngày càng cao và yêu cầu về an toàn người bệnh khắt khe hơn càng khẳng định vai trò không thể thay thế của đội ngũ hộ sinh”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Nguyễn Khánh Trang chia sẻ.

Cũng theo thầy Khánh Trang, tại Việt Nam hiện nay, nguồn cung đào tạo còn hạn chế, sự tham gia của các trường đại học đa ngành được nhìn nhận là một yếu tố góp phần lấp đầy những “khoảng trống” mà các trường y dược chưa đáp ứng kịp.

“Cùng với đó, theo Luật Giáo dục đại học, các trường được tự chủ mở ngành, miễn là đạt điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo. Với đặc thù vừa đào tạo vừa vận hành theo cơ chế thị trường, các trường đại học tư thục có thể mở rộng quy mô nhanh hơn.

Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt khi thực tế tuyển sinh năm 2025 cho thấy, nhiều cơ sở lấy điểm trúng tuyển ngành Hộ sinh bằng đúng mức điểm sàn. Nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ chuẩn đào tạo thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra là điều khó tránh khỏi.

Có thể nói, ngành Hộ sinh hiện nay vừa đối mặt với nhu cầu nhân lực lớn tại các cơ sở y tế, vừa đặt ra yêu cầu cao về chất lượng đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học. Việc mở rộng mạng lưới đào tạo là cần thiết, song cần đi kèm với kiểm soát chặt chẽ chuẩn đầu vào, điều kiện đào tạo và môi trường thực hành. Chỉ khi cân bằng được giữa quy mô và chất lượng, ngành Hộ sinh mới có thể đáp ứng đúng vai trò quan trọng của mình trong hệ thống y tế hiện nay và trong tương lai”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Nguyễn Khánh Trang cho hay.

180613-bac-si-san-phu-khoa-gioi-tphcm-huynh-nguyen-khanh-trang.jpg
Thầy thuốc nhân dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Huỳnh Nguyễn Khánh Trang - Trưởng Bộ môn Sản Phụ khoa, Khoa Y (Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch). Ảnh: Bệnh viện Hùng Vương.

Trưởng Bộ môn Sản Phụ khoa, Khoa Y (Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) nhấn mạnh rằng, dù trong bối cảnh nào với bất kỳ ngành học nào, chất lượng đào tạo phải được đặt lên hàng đầu, thay vì mở rộng ồ ạt để chạy theo số lượng.

Đối với những cơ sở có truyền thống đào tạo nhân lực y tế, lợi thế không chỉ nằm ở kinh nghiệm tổ chức chương trình mà còn ở nền tảng đội ngũ giảng viên cơ hữu thuộc các ngành gần như sản phụ khoa, điều dưỡng. Khi đi kèm với bệnh viện thực hành trực thuộc hoặc mạng lưới liên kết thực hành ổn định, lâu dài, quá trình đào tạo sẽ được gắn chặt với thực tiễn lâm sàng thay vì chỉ dừng ở lý thuyết trên giảng đường.

Trong môi trường đó, sinh viên ngành Hộ sinh có điều kiện được tham gia thực hành thường xuyên, liên tục, từng bước nâng cao kỹ năng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của các bác sĩ và hộ sinh giàu kinh nghiệm. Chính sự rèn luyện bài bản, có giám sát và phản hồi chuyên môn này là yếu tố cốt lõi giúp hình thành năng lực hành nghề vững chắc, bảo đảm an toàn cho người bệnh và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hệ thống y tế.

“Về lâu dài, việc quy hoạch lại mạng lưới đào tạo theo hướng tập trung, có chọn lọc và lấy chất lượng làm trọng tâm sẽ là giải pháp quan trọng để các ngành trong lĩnh vực sức khỏe nói chung, ngành Hộ sinh nói riêng phát triển bền vững. Khi hoạt động đào tạo được giao cho các cơ sở thực sự đủ điều kiện về đội ngũ, chương trình và cơ sở thực hành, đồng thời đặt dưới cơ chế giám sát, kiểm định chặt chẽ, chất lượng đầu ra sẽ được bảo đảm một cách thực chất hơn.

Qua đó, nguồn nhân lực hộ sinh không chỉ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong nước, mà còn góp phần nâng cao vị thế đào tạo y khoa của Việt Nam, tạo nền tảng cho quá trình hội nhập sâu rộng với các chuẩn mực khu vực và quốc tế”, Thầy thuốc nhân dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Nguyễn Khánh Trang khẳng định.

Thanh Hà