Mở ngành mới hay phát triển chương trình: Đâu là chìa khóa đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội?

17/02/2026 06:20
Thùy Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Khi chọn trường, HS đừng để bị “lóa mắt” bởi những tên gọi hào nhoáng. Hãy đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc CTĐT, chuẩn đầu ra và nội dung các môn học.

LTS: Thời gian qua, một số cơ sở giáo dục đại học mở mới nhiều ngành chưa có trong danh mục thống kê ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học tại Thông tư 09/2022/TT-BGDĐT.

Trước thực tế nhiều ngành rất hot, rất thời thượng nhưng chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp nhận bổ sung vào danh mục khiến một số ý kiến băn khoăn rằng điều này đang gây hạn chế quyền tự chủ và kìm hãm sự phát triển các ngành đào tạo mới theo nhu cầu xã hội của cơ sở giáo dục đại học.

Để rộng đường dư luận về vấn đề này, nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với chuyên gia quản lý giáo dục là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn - Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội với mong muốn giúp thí sinh, phụ huynh và xã hội hiểu rõ hơn về “ngành mới”.

Trân trọng giới thiệu cùng độc giả cuộc trao đổi này.

Phóng viên: Thưa Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn, mùa tuyển sinh 2026 đang đến gần, và hàng loạt trường đại học lại công bố các “ngành mới” với những tên hấp dẫn. Dưới góc nhìn của một nhà quản lý giáo dục, thầy nhìn nhận xu hướng phát triển các ngành mới là tất yếu hay chỉ là cuộc chạy đua tiếp thị để thu hút người học?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Nhìn từ phương diện tích cực, đây là tín hiệu đáng mừng của tự chủ đại học. Phần lớn cơ sở giáo dục đại học có chiến lược phát triển đa ngành và mở rộng hoạt động, tận dụng tối đa không gian sáng tạo để đa dạng hóa chương trình đào tạo nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học và thị trường lao động, đồng thời tăng cường hiệu quả hoạt động và khả năng phát triển bền vững.

Xu hướng mở ngành mới cũng gia tăng cạnh tranh, gây áp lực cho các trường đại học đang có thế mạnh đào tạo những ngành đó, đồng thời qua đó giúp người học có thêm cơ hội lựa chọn về chất lượng và chi phí đào tạo.

Tuy nhiên, thực tế trong nhiều năm qua cho thấy, phần lớn các ngành, chương trình đào tạo mở mới đã không thành công như mong đợi. Theo số liệu thống kê tuyển sinh nhiều năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bên cạnh những trường hợp thành công thì phần lớn những ngành, chương trình tuyển sinh kém thuộc nhóm mới mở. Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc này: một là do phân tích, dự báo nhu cầu chưa trúng, hai là khả năng cạnh tranh của “newcomer” kém cả về uy tín, thương hiệu và các điều kiện bảo đảm chất lượng so với các trường đang đào tạo. Vì vậy, chỉ những ngành, chương trình thực sự đáp ứng được nhu cầu mới của thị trường lao động, và được trường đại học chuẩn bị rất bài bản mới có khả năng thu hút thí sinh.

giam-doc-hoang-minh-son-7.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn - Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU

Phóng viên: Như Phó Giáo sư vừa chia sẻ, việc mở các ngành mới đã thể hiện sự năng động, sáng tạo và quyền tự chủ của các trường đại học nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thay đổi của xã hội. Nhưng vì sao năm 2024 Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ chấp nhận đưa vào danh mục ngành thí điểm 40 ngành mới trong 243 ngành do các trường đề xuất?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Có một thực tế là từ trước tới nay chúng ta hay nói tới việc mở một ngành mới, nhưng thực ra là mở một chương trình đào tạo mới, thuộc một ngành đã có hoặc chưa có trong danh mục ngành do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Có thể nói, hầu hết trong số 243 “ngành mới” (ở trình độ đại học) do các cơ sở giáo dục đại học đề xuất đưa vào danh mục ngành thí điểm năm 2024 chỉ là các chương trình đào tạo thuộc các ngành đã có sẵn trong danh mục, còn lại chỉ có 40 được chấp nhận đưa vào danh mục “thí điểm”.

Vấn đề rắc rối có lẽ nằm chính ở khái niệm “mở ngành” tồn tại từ nhiều năm, và sau này là quyền “tự chủ mở ngành” được đưa vào Luật Giáo dục đại học 2018 trong đó điều kiện mở một “ngành mới” (được hiểu là chưa có trong danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành) được quy định lỏng hơn điều kiện mở một ngành đã có sẵn trong danh mục. Hệ quả là chỉ trong một vài năm triển khai Luật Giáo dục đại học 2018, số lượng “ngành mới”, “ngành thí điểm” được các trường công bố và tuyển sinh đã gần bằng số lượng ngành đang có trong danh mục ngành do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Vấn đề này đã được khắc phục trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2025 (Luật số 125) mới được ban hành. Luật mới không còn quy định về “mở ngành” và “điều kiện mở ngành”, thay vào đó quy định về xây dựng, phát triển và phê duyệt chương trình đào tạo theo chuẩn chương trình đào tạo. Luật mới đã xác lập lại rõ ràng: Danh mục ngành đào tạo của Nhà nước đóng vai trò là “hệ thống mã định danh” chuẩn mực, còn chương trình đào tạo là không gian sáng tạo của các trường. Nhưng có một nguyên tắc bất di bất dịch: Chương trình đào tạo dù được thiết kế đơn ngành hay liên ngành, vẫn phải được xếp vào một mã ngành trong danh mục.

Phóng viên: Thực tế vừa qua có những tên ngành rất “hot” và thời thượng như “Kinh doanh số”, “Báo chí số”, “Công nghệ bán dẫn”, “Thiết kế vi mạch” hay “Robot và trí tuệ nhân tạo” được đề xuất, nhưng vì sao lại không được Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp nhận bổ sung vào danh mục, thưa thầy?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa ngành đào tạo với chương trình đào tạo và với các lĩnh vực công nghệ. Chương trình đào tạo là những thiết kế cụ thể, mang bản sắc riêng của từng trường, có thể định hướng theo những lĩnh vực công nghệ mới, được phân loại theo các ngành dựa trên nền tảng khoa học, phương pháp luận, đối tượng và công cụ nghiên cứu, và mục tiêu đào tạo.

Nếu chúng ta muốn những công nghệ mới, như “công nghệ số” hay “trí tuệ nhân tạo”, phải được thể hiện qua các ngành mới như “Kinh doanh số”, “Báo chí số”, thì tất cả các ngành hiện tại trong danh mục đều có thể gắn thêm nhãn tên “số”, “và trí tuệ nhân tạo” để trở thành ngành mới. Sự bùng nổ tên ngành, mã ngành mới như vậy sẽ làm cho danh mục ngành không còn ý nghĩa, văn bằng tốt nghiệp của sinh viên sẽ không còn phân loại được, công tác thống kê, phân tích và dự báo nhân lực cũng sẽ không thể thực hiện được.

Chúng ta có thể coi ngành đào tạo là một “loài thực vật” và mỗi chương trình đào tạo là một giống cây cụ thể thuộc họ đó, dù một giống cây ngô nào đó có áp dụng những công nghệ mới như “biến đổi gen” thì vẫn thuộc “cây ngô”. Một ngành đào tạo mới thực thụ, giống như một loài cây mới, chỉ được hình thành thông qua quá trình phân tách sâu sắc hoặc lai ghép bền vững từ các ngành hiện hữu, chứ không đơn thuần là việc thay đổi tên gọi theo xu hướng nhất thời.

Phóng viên: Có ý kiến cho rằng các trường đại học đang tự chủ rất mạnh mẽ. Vậy việc Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn yêu cầu phải “quy hoạch” các chương trình sáng tạo ấy vào những mã ngành cứng nhắc trong danh mục, liệu có phải là một chiếc “áo chật” kìm hãm sự phát triển hay không, thưa Phó Giáo sư?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Tôi hiểu sự băn khoăn này, nhưng chúng ta cần có góc nhìn đứng về quyền lợi của người học, cũng như quan điểm hội nhập quốc tế. Nếu một chương trình đào tạo không được xếp vào một mã ngành quy định thống nhất, thì người sử dụng lao động sẽ căn cứ vào đâu để đánh giá, tuyển dụng? Sinh viên muốn học các chương trình đào tạo sau đại học sẽ căn cứ vào đâu để biết mình phù hợp?

Danh mục ngành đào tạo hiện nay không phải là những “chiếc hộp” để nhốt sự sáng tạo, mà thực chất là “hệ tọa độ” quy chiếu. Danh mục này được xây dựng dựa trên sự tương thích chặt chẽ với chuẩn phân loại giáo dục quốc tế (ISCED-F 2013) của UNESCO. Tại sao điều này lại mang tính sống còn? Bởi vì tấm bằng cử nhân hay kỹ sư mà chúng ta trao cho sinh viên không chỉ có giá trị nội địa, mà phải là một “tấm hộ chiếu thông hành” trên thị trường nhân lực toàn cầu. Khi một chương trình đào tạo được xếp vào một mã ngành chuẩn trong danh mục, đồng nghĩa với việc chúng ta đã gắn cho nó một mã định danh quốc tế.

Tất nhiên, trong quá trình phát triển của khoa học, công nghệ sẽ hình thành những ngành mới, độc lập, nhưng chắc chắn việc hình thành một ngành mới không thể diễn ra nhanh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có quy định rất cụ thể về điều kiện, quy trình đề xuất, thẩm định để bổ sung một ngành mới vào danh mục. “Trí tuệ nhân tạo” và “Khoa học dữ liệu” là hai ngành tiêu biểu được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào danh mục ngành chính thức từ năm 2022.

Câu hỏi then chốt khi xem xét bổ sung một ngành mới vào trong danh mục là nền tảng khoa học, phương pháp luận của những ngành “hoàn toàn mới” này được hình thành từ đâu, giảng viên đã được đào tạo ở đâu để giảng dạy? Một ngành mới không thể được giảng dạy bởi những người “tay ngang”. Nguồn giảng viên cho các lĩnh vực mới thực chất chỉ có thể đến từ chính sự vận động của khoa học: họ là những nhà nghiên cứu từ các ngành gốc đã chuyển hướng nghiên cứu sang các lĩnh vực lai ghép hoặc phân tách mới.

Trong giáo dục đại học, nghiên cứu luôn phải đi trước đào tạo một bước. Nếu một cơ sở đào tạo đề xuất mở ngành mới mà không chứng minh được mình sở hữu đội ngũ giảng viên cơ hữu có nền tảng nghiên cứu chuyên sâu, thì đó là một sự rủi ro lớn.

Phóng viên: Vậy còn cơn sốt về “Bán dẫn” và “AI” thì sao, thưa thầy? Doanh nghiệp khát nhân lực, xã hội kỳ vọng, chẳng lẽ các cơ sở giáo dục như Đại học Quốc gia Hà Nội lại đứng ngoài cuộc chỉ vì những quy định về mã ngành?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Chúng tôi không đứng ngoài cuộc, mà chúng tôi chọn cách tiếp cận bền vững. Cần rạch ròi giữa “Lĩnh vực công nghệ” (thay đổi nhanh) và “Ngành đào tạo” (có tính nền tảng).

Để tham gia vào chuỗi giá trị công nghệ bán dẫn hay AI, chúng ta cần nhân lực từ rất nhiều ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật khác nhau, chứ không chỉ đơn giản là mở một ngành có tên là “Công nghệ bán dẫn”. Cách làm phù hợp của Đại học Quốc gia Hà Nội cũng như nhiều cơ sở giáo dục đại học hiện nay là thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu, một định hướng tự chọn trong các ngành gốc, như chương trình “Thiết kế vi mạch” thuộc ngành Kỹ thuật điện tử - viễn thông, hay chương trình “Vật liệu bán dẫn” thuộc ngành “Khoa học vật liệu”. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành chuẩn chương trình đào tạo nhân lực bán dẫn, trong đó có khá nhiều ngành đào tạo có thể tham gia.

giam-doc-hoang-minh-son-tham-quan-csvc-truong-dh-cong-nghe-2-1.jpg
Giám đốc Hoàng Minh Sơn thăm cơ sở vật chất tại Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Mặc dù phần lớn chương trình đào tạo được thiết kế chuyên sâu gắn một ngành đào tạo, có xu hướng ngày càng nhiều chương trình đào tạo đa ngành, liên ngành, ví dụ chương trình đào tạo kỹ sư Ô tô số, chương trình đào tạo thạc sĩ Robot và trí tuệ nhân tạo, chương trình đào tạo tiến sĩ Sinh học số… Các chương trình đào tạo này không đơn thuần ghép cơ học những kiến thức của 2 hoặc nhiều ngành, mà thông thường được thiết kế theo quan điểm tích hợp kiến thức để thực hiện mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực đa dạng của nền kinh tế phát triển năng động.

Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, khá nhiều chương trình đào tạo mới được xây dựng theo mô hình “X số” (như Ô tô số, Sinh học số…), “X+AI” (như Robot và trí tuệ nhân tạo) và “AI+X” (như Trí tuệ nhân tạo trong y học). Nhưng tất cả chương trình này, đều có gốc là một ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, như Sinh học, Kỹ thuật cơ khí, Khoa học máy tính, Trí tuệ nhân tạo...

Chiến lược này giúp sinh viên vừa có “cái gốc” vững chắc của ngành khoa học cơ bản hoặc kỹ thuật then chốt vừa có “cái ngọn” sắc bén của công nghệ thời thượng. Đó là triết lý đào tạo “lấy bất biến, ứng vạn biến”.

Phóng viên: Cuối cùng, trước “ma trận” thông tin về những “ngành mới”, Phó Giáo sư có lời khuyên nào cốt lõi nhất dành cho các em học sinh và phụ huynh?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Lời khuyên của tôi gói gọn trong một thông điệp: “Hãy soi kỹ thực đơn” (nội dung chương trình), đừng chỉ nhìn “Biển hiệu” (tên ngành, tên chương trình đào tạo). Khi chọn trường, quý phụ huynh và các em đừng để bị “lóa mắt” bởi những tên gọi hào nhoáng. Hãy đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và nội dung các môn học.

Nếu một ngành, một chương trình có tên rất lạ nhưng nội dung cốt lõi vẫn thuộc về một ngành truyền thống, thì hãy yên tâm chọn ngành truyền thống đó với một định hướng chuyên sâu phù hợp. Hãy chọn một nền tảng vững chắc để vươn xa, thay vì chọn một cái tên kêu nhưng thiếu cơ bản.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn những chia sẻ tâm huyết của Phó Giáo sư!

Thùy Linh