Thông tư mỗi người hiểu một kiểu, giáo viên hạng II tức tưởi vì xuống hạng III

09/10/2021 06:50 Phan Tuyết
GDVN- Thầy cô cho rằng, do hiểu sai quy định nên nhà trường đã vận dụng sai dẫn đến có giáo viên bị xuống hạng oan uổng, có giáo viên lại không được xét thăng hạng.

Giáo viên một số trường tiểu học tại thành phố Biên Hòa phản ánh về việc xét thăng hạng theo Thông tư số: 02/2021/TT-BGDĐT. Theo họ, do hiểu sai quy định nên nhà trường đã vận dụng sai dẫn đến có giáo viên bị xuống hạng oan uổng, có giáo viên lại không được xét thăng hạng.

Mục I, Điều 4 Thông tư quy định về việc thăng hạng giáo viên tiểu học (Ảnh chụp)

Thầy giáo H. (đề nghị không nêu tên) cho biết: “Tôi ra trường được 6 năm, đã giữ hạng II được 4 năm, hiện đang ăn mức lương 2.67. Nếu theo quy định của Thông tư 02/2021/TT-BGDĐT thì tôi có đầy đủ các yêu cầu nên phải được xét chuyển qua hạng II mới với hệ số lương là 4.0.

Thế nhưng, nhà trường lại chuyển tôi xuống hạng III với lý do chưa đủ năm công tác (và chưa đạt hệ số lương 3.99). Họ dẫn chứng mục Điều 4. Giáo viên tiểu học hạng II - Mã số: V.07.03.28 quy định:

i) Viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng II (mã số V.07.03.28) phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng III (mã số V.07.03.29) hoặc tương đương từ đủ 09 (chín) năm trở lên (không kể thời gian tập sự), tính đến thời hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi hoặc xét thăng hạng.

Nhà trường cho rằng, tôi mới đi dạy được 6 năm, thiếu 3 năm theo quy định và mức lương chưa đạt 3.99 nên phải xuống hạng (?)

(Ảnh minh họa Báo Tuyên Quang)
Giáo viên đủ chứng chỉ nhưng địa phương không thi/xét thăng hạng phải làm sao?

Bằng sự hiểu biết của mình, chúng tôi xin được phân tích vấn đề của thầy giáo H. và của không ít đồng nghiệp đang ở hạng II cũ nhưng chưa đủ 9 năm công tác mà bị đưa xuống hạng III như sau:

Mục I trong Điều 4. Giáo viên tiểu học hạng II - Mã số: V.07.03.28 quy định rất rõ: viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp. Những giáo viên muốn dự thi hoặc xét thăng hạng II đã đủ 09 (chín) năm trở lên (không kể thời gian tập sự).

Mục này được hiểu là dành cho những giáo viên đang ở hạng III muốn thăng lên hạng II chứ không dành cho giáo viên đang ở hạng II phải xuống hạng III mới.

Xét vào trường hợp thầy H. hiện thầy đã đi dạy được 6 năm và đã được thăng hạng II đến 4 năm không nằm trong quy định ở mục I của Điều 4. Vì thế, nếu nhà trường lấy mốc chưa đủ 9 năm công tác để hạ từ hạng II đang giữ xuống hạng III là hoàn toàn không hợp lý.

Việc giáng hạng như thế (trong khi tất cả các quy định về hạng II được nêu trong Thông tư số: 02/2021/TT-BGDĐT thì thầy giáo H. và một số đồng nghiệp đều đạt), dẫn đến quyền lợi của một số thầy cô giáo bị thiệt thòi rất lớn (thay vì chuyển qua hạng II mới sẽ nhận mức lương 4.0 thì xuống hạng III mức lương vẫn sẽ là 2.67 và theo lý giải của nhà trường khi nào thầy H. đạt bậc lương 3.99 mới được xét thăng lên hạng II, lúc này phải 11 năm sau).

Được biết, xét thăng hạng lần này, nhà trường chỉ xét cho những giáo viên có mức lương đã đạt 3.99 (tính đến ngày 1/4), có giáo viên ngày 1.5 mới đạt mức 3.99 cũng không được xét. Nhiều thầy cô giáo thắc mắc, không biết nhà trường dựa vào văn bản nào để làm như thế nhưng không nhận được câu trả lời thỏa đáng.

Theo quan điểm và hiểu biết của người viết thì hiện chưa có một văn bản nào quy định, giáo viên phải đạt mức lương 3.99 (đến thời điểm 1/4) mới được xét thăng hạng. Theo quy định về việc chuyển xếp lương giáo viên tiểu học hạng II cũ sang hạng II mới sẽ được xếp lương như sau.

Hệ số lương - Hạng II cũ

Hệ số lương - Hạng II mới

2,34 – 1


2,67 – 2

4,00 – 1

3,00 – 3

4,00 – 1

3,33 – 4

4,00 – 1

3,66 – 5

4,00 – 1

3,99 – 6

4,00 – 1

4,32 – 7

4,34 – 2

4,65 – 8

4,68 – 3

4,98 – 9

5,02 – 4


5,36 – 5


5,70 – 6


6,04 – 7


6,38 – 8

Nhìn vào bảng xếp lương của giáo viên tiểu học theo Thông tư 02/2021 ở trên, ta thấy nếu giáo viên được thăng hạng II (mới) hoặc được chuyển từ hạng II (cũ) sang hạng II (mới) mà đang ở mức lương 2.67; 3.0; 3.33; 3.66; 3.99 đều được chuyển sang mức lương 4.0 mà không phải chỉ những giáo viên đang ở mức 3.99 (tính từ ngày ¼) như một số trường tiểu học tại thành phố Biên Hòa đang áp dụng.

Chính vì vậy, kính đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có hướng dẫn cụ thể cho các địa phương về các tiêu chí chuyển hạng giáo viên theo các thông tư mới, để các nhà giáo đỡ thiệt thòi, tránh tối đa nghịch cảnh các nhà giáo lâu năm phải làm lại từ đầu và "mãi là người đến sau" vì các biến động chính sách mà Bộ ban hành.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Phan Tuyết