Hệ thống giáo dục nghề nghiệp: Tỷ lệ chồng chéo, trùng lắp ngành nghề lên tới 25%-35%

29/03/2026 06:20
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Chỉ khoảng 30% trường còn đào tạo chuyên sâu, trong khi xu hướng đa ngành làm tăng trùng lắp ngành nghề lên 25-35% giữa các cơ sở GDNN.

Tính đến cuối năm 2025, hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam ghi nhận những bước chuyển biến về cơ cấu và chất lượng, tuy nhiên vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức trong quy hoạch và sự chồng chéo ngành nghề đào tạo.

1.147 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tuyển sinh gần 874.000 học sinh, sinh viên

gdnn-1-8354.png

Theo số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tại dự thảo Đề án phát triển hệ thống trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế giai đoạn 2026-2035, tính đến ngày 31/12/2025, cả nước có 1.147 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 502 cơ sở công lập và 645 cơ sở ngoài công lập (chiếm 56.2%).

Trong đó có 392 trường cao đẳng (267 trường công lập và 125 trường ngoài công lập); 358 trường trung cấp (125 trường công lập và 233 trường ngoài công lập); 397 trung tâm giáo dục nghề nghiệp (110 trung tâm công lập và 287 trung tâm ngoài công lập).

Về tuyển sinh, tổng quy mô theo đăng ký hoạt động của các trường cao đẳng (đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp) đạt khoảng 874.000 học sinh, sinh viên tại 20 lĩnh vực. Trong đó, tuyển sinh cao nhất là lĩnh vực kỹ thuật với khoảng 180.000 học sinh, sinh viên; thấp nhất là lĩnh vực toán và thống kê với 400 học sinh, sinh viên.

Quy mô tuyển sinh cao nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng khoảng 324.000 học sinh, sinh viên; thấp nhất là vùng Tây Nguyên khoảng 44.000 học sinh, sinh viên.

Địa phương có quy mô tuyển sinh cao nhất là Thành phố Hà Nội khoảng 144.000 học sinh, sinh viên; tiếp đến là Thành phố Hồ Chí Minh với 138.500 học sinh, sinh viên. Địa phương có quy mô tuyển sinh thấp nhất là tỉnh Cao Bằng với 100 học sinh, sinh viên.

Trong số 262 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án tự chủ, có 30% cơ sở giáo dục nghề nghiệp do nhà nước đảm bảo chi thường xuyên (nhóm 4), 61% cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm một phần chi thường xuyên (nhóm 3), 5% cơ sở giáo dục nghề nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2), 4% cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (nhóm 1).

Hiện nay, hệ thống đã triển khai 107 chương trình chất lượng cao triển khai tại 33 trường, quy mô hơn 6.300 người học; 77 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài tại 29 trường; 35% số trường cao đẳng đã ứng dụng dạy học trực tuyến, 11 trường cao đẳng đã thí điểm xây dựng nền tảng học liệu số dùng chung (thuộc dự án GIZ).

Mạng lưới phát triển chậm, còn trùng lắp ngành nghề

Trường Cao đẳng Việt - Đức Nghệ An tổ chức thi tốt nghiệp cho sinh viên cao đẳng ngành Kỹ thuật Xây dựng K17 và học sinh trung cấp ngành Vận hành máy thi công nền K18. Ảnh: Website nhà trường
Trường Cao đẳng Việt - Đức Nghệ An tổ chức thi tốt nghiệp cho sinh viên cao đẳng ngành Kỹ thuật Xây dựng K17 và học sinh trung cấp ngành Vận hành máy thi công nền K18. Ảnh: Website nhà trường

Dù có sự phát triển, song theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc thực hiện quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp vẫn triển khai chậm; mạng lưới không đồng đều giữa các vùng miền, trùng lặp ngành nghề, quy mô nhỏ, thiếu trung tâm dẫn dắt.

Vẫn còn một số địa phương thực hiện sáp nhập cơ học tất cả các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý thành một cơ sở, không gắn với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cũng như nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; chưa có giải pháp xử lý những phát sinh sau khi sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Đáng chú ý là tình trạng chồng chéo, trùng lắp ngành nghề. Theo đó, xu thế gần đây, các trường chuyển sang đào tạo đa ngành, nghề theo nhu cầu thị trường (chỉ còn khoảng 30% trường đào tạo các ngành, nghề chuyên sâu phục vụ nhân lực phát triển của các Bộ, ngành), dẫn tới tình trạng chồng chéo, trùng lắp về ngành, nghề đào tạo giữa các trường thuộc Bộ, ngành trên cùng một địa phương và giữa các trường thuộc Bộ, ngành với trường thuộc địa phương (tỷ lệ trùng lắp từ 25-35%); chưa chú trọng phát triển những ngành, lĩnh vực đặc thù có lợi thế so sánh, những kỹ năng tương lai cho Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.

Trong khi đó, việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, nhất là khối các Bộ, ngành Trung ương chậm, chưa đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 19-NQ/TW.

Quy mô tuyển sinh cao nhất là hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường (74.500 học sinh, sinh viên); Bộ Công Thương (71.000 họ sinh, sinh viên); thấp nhấp là Bộ Thông tin và Truyền thông (cũ) với 700 học sinh, sinh viên.

Các trường đào tạo chuyên sâu, đặc thù: tập trung là các trường thuộc Bộ Y tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Các trường thuộc Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, và một số trường của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo đào tạo đa ngành, nghề.

Điều kiện đảm bảo chất lượng: cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng, nhưng quy mô còn hạn chế

Về diện tích đất, qua tổng hợp báo cáo của 167 trường cao đẳng (58 trường cao đẳng thuộc các bộ, ngành; 109 trường cao đẳng thuộc địa phương), Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá, về cơ bản các trường có diện tích đảm bảo theo quy định (tối thiểu 2 ha trong khu vực đô thị; 4 ha ngoài đô thị).

Theo đó, số trường thuộc bộ, ngành có diện tích trên 10ha chiếm 20,7%, trường có diện tích trên 20ha chiếm 3,4%; số trường thuộc địa phương có diện tích trên 10ha chiếm 14,7%, trường có diện tích trên 20ha chiếm 1,8%.

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo: các trường cao đẳng thuộc bộ, ngành, địa phương đều có phòng học lý thuyết, giảng đường, hội trường; xưởng, phòng thí nghiệm, phòng thực hành; thư viện; ký túc xá; khu rèn luyện thể chất, thể dục thể thao đáp ứng quy mô quy mô đào tạo được cấp.

Về chất lượng đội ngũ nhà giáo: Đội ngũ nhà giáo của các trường tương đối đảm bảo 99,4% nhà giáo các trường đạt chuẩn về trình độ tin học; 81,5% nhà giáo đạt trình độ ngoại ngữ bậc 3; 98,2% nhà giáo có bằng cử nhân hoặc tương đương trở lên phù hợp với ngành, nghề giảng dạy; 88% nhà giáo có chứng chỉ kỹ năng nghề để giảng dạy thực hành trình độ cao đẳng; 80% nhà giáo các trường được bồi dưỡng để cập nhật công nghệ mới thuộc lĩnh vực ngành, nghề giảng dạy.

Tuy nhiên, 36,5% các trường chưa đạt quy mô đào tạo tối thiểu 2.000 học sinh, sinh viên; 66% trường có tỷ lệ bỏ học không vượt quá 20%; 45% trường chưa có chương trình đào tạo chất lượng cao hoặc tương đương chuẩn quốc tế, khu vực ASEAN.

Phát triển trường cao đẳng chất lượng cao: có kết quả bước đầu nhưng chưa đạt mục tiêu

Trường Cao đẳng Viễn Đông là cơ sở đào tạo ngoài công lập duy nhất trong số 10 trường cao đẳng trên toàn quốc được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận trường cao đẳng chất lượng cao, tính đến tháng 3/2026. Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Cao đẳng Viễn Đông
Trường Cao đẳng Viễn Đông là cơ sở đào tạo ngoài công lập duy nhất trong số 10 trường cao đẳng trên toàn quốc được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận trường cao đẳng chất lượng cao, tính đến tháng 3/2026. Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Cao đẳng Viễn Đông

Thực tế, việc phát triển hệ thống các trường cao đẳng chất lượng cao đã được triển khai từ năm 2014 theo Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020” và Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 11/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, bổ sung Đề án “Phát triển trường cao đẳng chất lượng cao đến năm 2025.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá, việc triển khai đã đạt được một số kết quả bước đầu như xác định tiêu chí, đầu tư nâng cấp, chuẩn hóa đội ngũ, chương trình và cơ sở vật chất, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp.

Tuy nhiên, giai đoạn 2014-2025, mục tiêu phát triển hệ thống trường chất lượng cao chưa đạt được do cơ chế, chính sách chưa kịp thời; nguồn lực đầu tư chưa đủ; thời gian đầu tư ngắn; tổ chức thực hiện chưa đồng bộ; vai trò, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương chưa được đề cao.

Năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức đánh giá, công nhận trường cao đẳng chất lượng cao trên cơ sở các tiêu chí về cơ sở vật chất, đội ngũ, kiểm định chất lượng, tự chủ tài chính và khả năng huy động nguồn lực.

Kết quả, 10 trường cao đẳng đã được đáng giá và công nhận trường cao đẳng chất lượng cao (trong đó có 01 trường cao đẳng tư thục).

Định hướng phát triển theo hướng “mở”

Đề án phát triển hệ thống trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế giai đoạn 2026-2035 xác định phát triển theo hướng “mở”. Nhà nước có cơ chế, chính sách ưu tiên hỗ trợ đầu tư cho các trường được lựa chọn; đồng thời khuyến khích, đẩy mạnh xã hội hóa để các trường cao đẳng tư thục được đánh giá, công nhận là trường cao đẳng chất lượng cao, trường cao đẳng đạt chuẩn quốc tế.

Phát triển hệ thống trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế là nhiệm vụ quan trọng, phải đi trước một bước nhằm tạo đột phá phát triển nhân lực có kỹ năng nghề cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đề án nhấn mạnh việc phát triển hệ thống trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm trong nước và quốc tế; bảo đảm tính hệ thống, dài hạn, có lộ trình, bước đi phù hợp, cùng các giải pháp đồng bộ, khả thi.

Đồng thời, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp.

Nhà nước cũng sẽ xây dựng và ban hành đồng bộ các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ, nhằm khuyến khích người học, thu hút nhà giáo, chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao.

Đề án đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026-2030, phấn đấu cả nước có khoảng 50 trường cao đẳng chất lượng cao (mỗi địa phương cấp tỉnh có ít nhất 01 trường).

Giai đoạn 2031-2035, phấn đấu cả nước có 60 trường cao đẳng tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4 (mỗi địa phương cấp tỉnh có ít nhất 01 trường) và 06 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; đào tạo 200 ngành, nghề trọng điểm, trong đó 15 đến 20 ngành, nghề có năng lực cạnh tranh vượt trội trong khu vực ASEAN và thế giới.

Xem thêm dự thảo Đề án phát triển hệ thống trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế giai đoạn 2026-2035 TẠI ĐÂY.

Doãn Nhàn