Trong cuộc làm việc với các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Quyền Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn khẳng định hệ thống giáo dục đại học phải nhận thức rõ trách nhiệm quốc gia trong việc thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Về trách nhiệm đóng góp, Quyền Bộ trưởng nhấn mạnh không thể chỉ dừng lại ở việc đếm số lượng bài báo hay so sánh tăng trưởng lượng công bố hàng năm. Khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; những đề tài, nhiệm vụ khoa học giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước; đội ngũ nhân lực chất lượng cao mà các trường đại học đào tạo phải đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Những đóng góp đó cần được chứng minh bằng kết quả cụ thể. [1]

Số lượng không hoàn toàn đồng nghĩa với chất lượng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ bày tỏ sự nhất trí cao với quan điểm chỉ đạo của Quyền Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thầy Vận chỉ ra, thực tế ngay từ cách đây hơn 60 năm, mô hình đại học ở Việt Nam, tiêu biểu như Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, dù là cơ sở đào tạo khoa học cơ bản, nhưng đã có định hướng gắn nghiên cứu với thực tiễn sản xuất. Còn đối với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội khi đó (nay là Đại học Bách Khoa Hà Nội) đã hình thành một “nếp” nghiên cứu gắn với ứng dụng.

Thực tế hiện nay, hoạt động khoa học trong nhiều trường đại học đang có xu hướng tập trung vào công bố quốc tế (WoS/Scopus). Về mặt tích cực, cách tiếp cận này góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, hội nhập quốc tế, song cũng bộc lộ những hạn chế và chưa đủ để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Nếu quá phụ thuộc vào số lượng công bố để đánh giá sẽ dễ tạo áp lực chạy theo chỉ số. Dẫn đến tình trạng đánh giá dựa chủ yếu vào số liệu mà chưa phản ánh đầy đủ chất lượng thực chất.

“Thực tiễn kiểm định chất lượng giáo dục trong nhiều năm cho thấy, chất lượng không nằm hoàn toàn ở các con số. Điều quan trọng là phải đi sâu phân tích toàn diện, đặc biệt là xây dựng được văn hóa chất lượng trong nhà trường. Văn hóa chất lượng phải được hình thành từ triết lý giáo dục, hệ giá trị mà nhà trường và đội ngũ giảng viên theo đuổi, cũng như trách nhiệm đối với xã hội và đất nước. Khi đó, việc đánh giá mới phản ánh đúng thực chất và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Nếu chỉ dừng ở việc xếp hạng và đánh giá theo các con số, thì sẽ không thể phản ánh đầy đủ chất lượng và vai trò thực sự của đại học trong phát triển kinh tế, xã hội.

Ngoài ra, công tác xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư hay đánh giá hoạt động khoa học cũng không thể chỉ dừng ở việc đếm bài báo. Cần tính đến các công trình có khả năng ứng dụng, phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế, xã hội, từ đó tạo động lực và đòn bẩy cho hệ thống nghiên cứu” - thầy Vận nhấn mạnh.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận khẳng định, trong bối cảnh hiện nay, cần có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chế, giao trách nhiệm rõ ràng hơn cho các trường đại học và các viện nghiên cứu trong việc phát triển các sản phẩm khoa học - công nghệ có thể chuyển giao, thương mại hóa. Khi đó, đội ngũ giảng viên, nhà khoa học sẽ buộc phải cân nhắc, khai thác năng lực nghiên cứu theo hướng gắn với sản xuất, tạo ra hàng hóa và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Chỉ khi khoa học thực sự đi vào sản xuất và đời sống, trở thành động lực trực tiếp cho tăng trưởng, thì Việt Nam mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu chỉ dừng ở công bố, vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội sẽ còn rất hạn chế.

z7630854525528-e882219e168cc7588d4487d39f34442c-6403.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ. Ảnh: NVCC.

Theo quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), mọi hoạt động của nhà trường đều phụ thuộc vào mục tiêu phát triển đặt ra trong từng giai đoạn. Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang hướng tới mục tiêu cải thiện thứ hạng trên các bảng xếp hạng quốc tế, trong đó tiêu chí công bố khoa học đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, các trường thường tập trung thúc đẩy các công bố.

Muốn chuyển đổi mục tiêu sang đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế, các tiêu chí đánh giá cũng cần thay đổi tương ứng. Cụ thể, thay vì chỉ đo lường bằng số lượng bài báo, cần quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, giá trị các hợp đồng nghiên cứu, cũng như tính ứng dụng thực tiễn của các đề tài.

Các chỉ số về công bố khoa học vẫn có giá trị vì góp phần nâng cao uy tín và thứ hạng của cơ sở giáo dục đại học. Mặc dù vậy, không nên chỉ dừng lại ở số lượng bài báo, mà cần bổ sung các tiêu chí phản ánh trách nhiệm ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Cơ sở giáo dục đại học cần minh chứng đóng góp của mình bằng những kết quả cụ thể, có thể đo lường được. Muốn thúc đẩy hoạt động nào thì cần thiết kế KPI phù hợp với hoạt động đó, qua đó kích thích sự phát triển thực chất của trường đại học.

Cân nhắc đặc thù ngành và cho phép nghiên cứu dài hạn

Trao đổi thêm về việc đưa nghiên cứu vào thực tiễn, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận cho rằng, quá trình chuyển hóa từ nghiên cứu đến sản phẩm ứng dụng cần được nhìn nhận linh hoạt, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

Với các lĩnh vực khoa học cơ bản hoặc các nghiên cứu lý thuyết, có những kết quả phải sau hàng chục năm mới có thể ứng dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các nghiên cứu này không đóng góp cho phát triển kinh tế, xã hội, mà vấn đề là cần có cách tiếp cận và cơ chế phù hợp để phát huy giá trị của từng loại hình nghiên cứu.

Dưới góc nhìn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc, rào cản lớn hiện nay khiến nhiều kết quả nghiên cứu trong trường đại học chưa đi vào thực tiễn, chưa được thương mại hóa nằm ở các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế tài chính. Phần lớn đề tài nghiên cứu hiện nay sử dụng ngân sách Nhà nước, nên khi doanh nghiệp muốn mua lại hoặc khai thác kết quả nghiên cứu sẽ phát sinh hàng loạt vấn đề như định giá tài sản trí tuệ, phân chia lợi ích giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và tác giả.

Dù một số chính sách mới đã mở ra hướng đi nhưng trên thực tế vẫn thiếu những mô hình cụ thể, điển hình để triển khai. Để thúc đẩy quá trình chuyển giao và thương mại hóa, cần xây dựng các mô hình mẫu, có sự tham gia dẫn dắt của Nhà nước. Những trường hợp thành công, rõ ràng về cơ chế, quy trình và phân chia lợi ích sẽ giúp các cơ sở giáo dục và nhà khoa học có cơ sở tham chiếu, từ đó mạnh dạn triển khai.

Bên cạnh đó, do đặc thù các lĩnh vực rất khác nhau nên cũng cần có các mô hình riêng phù hợp. Khi có những hình mẫu cụ thể, được pháp luật thừa nhận và hỗ trợ, các nhà khoa học sẽ yên tâm hơn trong việc đưa kết quả nghiên cứu ra thực tiễn.

sdi9yuyt29sjkwrno73onshv.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: Website nhà trường.

Từ góc độ của một nhà khoa học, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Trí - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), chủ nhân Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2024, việc chuyển hướng từ nghiên cứu thuần túy sang gắn với ứng dụng là xu thế tất yếu của khoa học Việt Nam trong thời gian tới.

Thầy Trí cho biết, cá nhân rất kỳ vọng vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, quá trình này không thể diễn ra trong “một sớm một chiều” mà cần một lộ trình chuyển đổi rõ ràng.

Khoa học đòi hỏi quá trình tích lũy nghiêm túc, phải nghiên cứu, thực nghiệm, kiểm chứng trước khi có thể đưa ra sản phẩm. Việc đọc, suy ngẫm, thử nghiệm và chấp nhận thất bại là tất yếu, nên không thể đặt kỳ vọng có sản phẩm ngay trong thời gian ngắn.

Hiện nay, bên cạnh nghiên cứu cơ bản, duy trì công bố quốc tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Trí cũng hướng tới các giải pháp ứng dụng, sáng chế và sản phẩm cụ thể. Đây là cách tiếp cận “song hành” giữa nghiên cứu hàn lâm và thực tiễn.

Thầy Trí đánh giá, môi trường khoa học hiện nay có nhiều thuận lợi như cơ chế chính sách thông thoáng, nguồn lực tài chính được cải thiện, đội ngũ và cơ sở đào tạo được tăng cường. Thách thức lớn nhất lại nằm ở chính sự thay đổi tư duy của các nhà khoa học, đặc biệt là những người làm nghiên cứu cơ bản khi tìm kiếm các giải pháp có tính ứng dụng, gần gũi với thực tiễn.

Xây dựng cơ chế đồng bộ để thúc đẩy ứng dụng nghiên cứu

Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Đặng Ứng Vận chỉ ra, cần xây dựng một thể chế đồng bộ để thúc đẩy các nghiên cứu đi vào thực tiễn. Thể chế này phải bao gồm nhiều yếu tố. Trước hết là thay đổi nhận thức, gắn nghiên cứu với yêu cầu phát triển của đất nước. Tiếp đó là hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần có các chính sách phù hợp trong toàn bộ hệ sinh thái, cùng với sự hỗ trợ và định hướng chiến lược từ Nhà nước nhằm tập trung nguồn lực vào những bài toán trọng tâm.

Đặc biệt, thầy Vận khẳng định yếu tố then chốt là xây dựng được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Hệ sinh thái này không chỉ dừng ở cơ sở vật chất, trang thiết bị hay nguồn nhân lực, mà cần được hoàn thiện một cách toàn diện để các nhà khoa học có thể phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu. Quan trọng hơn, phải có cơ chế, chính sách phù hợp từ phía Nhà nước nhằm định hướng và tạo động lực cho các nghiên cứu có tính ứng dụng cao.

“Cần có chính sách đầu tư có trọng điểm, định hướng rõ ràng và đặc biệt là phải có tầm nhìn dài hạn. Nhiều nghiên cứu khoa học, nhất là những công trình lớn, có thể mất 10 năm, 15 năm, thậm chí lâu hơn mới tạo ra sản phẩm. Nếu chỉ triển khai các đề tài ngắn hạn, sau vài năm tổng kết là kết thúc thì rất khó giải quyết được những bài toán lớn của thực tiễn” - thầy Vận phân tích.

Nhấn mạnh vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận cho rằng cần tiếp tục phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, đủ năng lực dẫn dắt các nhiệm vụ khoa học, công nghệ quy mô lớn.

Để một ý tưởng khoa học đi từ lý thuyết đến sản phẩm ứng dụng, không thể chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân mà cần có cả một đội ngũ đồng bộ, từ nghiên cứu cơ bản đến triển khai sản xuất. Với những đề tài lớn, cần "tổng công trình sư" đủ năng lực để dẫn dắt, tổ chức triển khai các dự án khoa học, công nghệ, từng bước hình thành sản phẩm có thể đưa ra thị trường.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận cũng cho rằng, Nhà nước đóng vai trò định hướng và hỗ trợ hệ sinh thái, song không thể “làm thay” cho toàn bộ quá trình. Trách nhiệm của đội ngũ nhà khoa học, đặc biệt là các giáo sư đầu ngành, là phải chủ động đề xuất, hiến kế các hướng nghiên cứu có tính chiến lược, gắn với nhu cầu phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, mối liên kết giữa nhà khoa học và doanh nghiệp được xem là yếu tố then chốt nhằm xác định rõ những lĩnh vực có lợi thế để tập trung đầu tư, từ đó tạo ra các sản phẩm có khả năng cạnh tranh.

Thầy Vận bày tỏ: “Đây là bài toán đòi hỏi tư duy chiến lược tổng thể, không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ chính các nhà khoa học. Khi đã đề xuất và được đầu tư, các nhiệm vụ khoa học cần hướng tới mục tiêu cuối cùng là tạo ra sản phẩm có giá trị, có sức cạnh tranh trên thị trường”.

Trước yêu cầu các đề tài nhiệm vụ khoa học phải giải quyết những vấn đề cấp bách của đất nước, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho hay, hiện nay Nhà nước đã định vị tương đối rõ các lĩnh vực then chốt, ưu tiên đầu tư phát triển nhưng nếu chỉ bó hẹp trong một số ngành cố định sẽ thiếu tính linh hoạt trong bối cảnh thế giới luôn biến động và xuất hiện nhiều lĩnh vực mới.

Vai trò của đội ngũ nhà khoa học không chỉ dừng lại ở nghiên cứu mà còn phải tham gia tư vấn chính sách, cung cấp thông tin, dự báo xu hướng để giúp Nhà nước nhận diện những ngành tiềm năng trong tương lai, từ đó kịp thời điều chỉnh định hướng phát triển.

Để thúc đẩy quá trình từ ươm tạo ý tưởng, triển khai nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm, thầy Phúc chỉ ra cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

Vị Phó Hiệu trưởng bày tỏ: "Mối liên kết “ba nhà” chỉ có thể vận hành hiệu quả khi được đặt trong những mô hình cụ thể, với cơ chế rõ ràng cho từng trường hợp. Trong đó, một hướng đi đáng chú ý là áp dụng cơ chế “sandbox” – cho phép thí điểm các mô hình mới với mức độ tự chủ cao hơn trong phạm vi được kiểm soát.

Sandbox giúp các bên có không gian thử nghiệm linh hoạt, nhưng vẫn cần được "cách ly" nhất định để hạn chế rủi ro lan rộng nếu mô hình chưa hoàn thiện. Chính phủ đã có những định hướng thúc đẩy cơ chế này mặc dù vậy trên thực tế vẫn thiếu các mô hình mẫu cụ thể cho từng lĩnh vực, khiến việc triển khai còn dè dặt.

Nếu xây dựng được những mô hình sandbox điển hình, với quy trình, cơ chế phối hợp và phân chia trách nhiệm rõ ràng, sẽ tạo động lực thúc đẩy các ý tưởng nghiên cứu nhanh chóng được thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao ra thị trường".

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/phat-huy-vai-tro-nong-cot-cua-cac-co-so-giao-duc-dai-hoc-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-post258379.gd

Gia Hân