Trăn trở khi “mỗi nơi một kiểu” và bài toán đặc thù địa lý
Theo Đại biểu Quốc hội Trần Quốc Việt - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Nguyễn Văn Linh (Hưng Yên), chủ trương sáp nhập các trường học, thu gọn đầu mối mang lại những lợi ích thiết thực về tinh gọn bộ máy và linh hoạt trong điều động nhân sự. Tuy nhiên, việc thiếu hướng dẫn chung thống nhất giữa các vùng miền cùng tâm lý sáp nhập “cơ học” đang đặt ra nhiều thách thức trong bài toán quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Trần Quốc Việt đã chỉ ra: “Đợt sắp xếp mạng lưới trường lớp vừa qua tại nhiều địa phương cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về quy mô và cách thức triển khai. Do chưa có khung hướng dẫn chung ban hành từ cấp Bộ, việc thực hiện chủ yếu dựa trên sự chủ động của chính quyền địa phương dẫn đến tình trạng mỗi nơi hiểu và làm theo một cách khác nhau.
Từ đó, dẫn đến một hiện trạng, có nơi sáp nhập 4-5 trường thành một đơn vị, nhưng cũng có nơi gộp đến hàng chục, thậm chí hơn 20 cơ sở giáo dục vào chung một đầu mối quản lý”.
Đại biểu Trần Quốc Việt cho rằng, sự bất cập này thể hiện khi soi chiếu vào đặc thù địa lý của từng vùng miền. Nếu ở đồng bằng hay đô thị với mật độ dân cư đông và hạ tầng giao thông thuận tiện, việc sáp nhập 4-5 trường lân cận có thể thực hiện; thì tại miền núi, vùng cao, khoảng cách giữa các điểm trường lại kéo dài hàng chục cây số đường đồi, thì lại trở nên rất khó khả thi. Sự sáp nhập mang tính “cơ học” trong điều kiện địa hình phức tạp gây trăn trở về hiệu quả.
Vị đại biểu một lần nữa khẳng định, không thể phủ nhận chủ trương sáp nhập mạng lưới trường lớp của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, mang lại nhiều nét khởi sắc. Trước hết, về mặt quản lý, việc thu gọn đầu mối giúp tinh giản bộ máy hiệu quả. Thứ hai, về mặt chuyên môn, Ban giám hiệu có thể linh hoạt hơn trong việc điều động giáo viên nội bộ giữa các phân hiệu, từng bước giải quyết bài toán thừa - thiếu giáo viên cục bộ.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc gộp các trường theo kiểu sáp nhập “cơ học” mà không có lộ trình quy hoạch dài hạn và đầu tư bài bản, hệ thống quản trị sẽ rất dễ rơi vào trạng thái quá tải, làm ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng dạy và học.
Cần chuẩn hóa và tư duy quy hoạch dài hạn
Để công tác sắp xếp đạt hiệu quả bền vững, Đại biểu Trần Quốc Việt cho rằng vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương mang tính quyết định:
Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần sớm tham mưu cho Chính phủ ban hành nghị định, đồng thời ban hành thông tư hướng dẫn tiêu chí phân loại và quy định số lượng trường sáp nhập phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính (đồng bằng, đô thị, miền núi, vùng cao), tạo hành lang pháp lý chuẩn cho địa phương căn cứ thực hiện.
Đối với chính quyền địa phương: Cần thay đổi tư duy quản lý. Thay vì duy trì dàn trải nhiều phân hiệu, địa phương cần tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất đồng bộ cho điểm trường chính để đáp ứng quy mô lớn học sinh, từ đó giảm dần các điểm trường lẻ. Cụ thể, từ điểm trường trung tâm đủ điều kiện về số lớp và hạ tầng, địa phương mới từng bước giảm các phân hiệu phụ (ví dụ giảm từ 4-5 phân hiệu xuống còn khoảng 2-3 phân hiệu).
“Chính quyền địa phương các cấp cần đổi mới tư duy quy hoạch, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa mạng lưới để trường học trên địa bàn vận hành hiệu quả. Đây được xem là nguyên tắc cốt lõi nhằm bảo đảm việc sắp xếp, tinh gọn các cơ sở giáo dục đạt kết quả thực chất và toàn diện nhất” - vị đại biểu đề cập, đồng thời nhấn mạnh, đối với quy hoạch mạng lưới, cần sự vào cuộc quyết liệt của cả chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp xã.
Theo Đại biểu Trần Quốc Việt, dù triển khai ở hình thức nào, nguyên tắc cốt lõi và quan trọng nhất của ngành giáo dục vẫn phải là đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của nhân dân. Việc sắp xếp mạng lưới trường lớp phải đảm bảo môi trường học tập an toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tạo khoảng cách đi lại thuận tiện nhất cho học sinh.
“Việc sáp nhập trường học không dừng lại ở một giải pháp tình thế, mà là bài toán cải cách mang tính chiến lược dài hạn. Sau giai đoạn sắp xếp ban đầu, các địa phương cần chủ động theo dõi, kịp thời rút kinh nghiệm để tiếp tục tối ưu hóa mạng lưới cơ sở giáo dục - vừa bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước, vừa đáp ứng trọn vẹn mục tiêu phát triển chung” - vị đại biểu cho hay.
Với kinh nghiệm nhiều năm tham gia công tác giảng dạy tại vùng khó, Đại biểu Quốc hội Nàng Xô Vi - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi cũng quan tâm đến vấn đề sắp xếp mạng lưới trường lớp.
Theo nữ đại biểu, nguyên tắc xuyên suốt để triển khai vẫn là “lấy người học làm trung tâm”. “Việc sắp xếp mạng lưới trường lớp phải căn cứ vào điều kiện thực tiễn ở mỗi địa phương, đặc biệt, quan tâm hơn đến đặc thù của trường lớp ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cá nhân tôi là người trực tiếp tham gia giảng dạy ở môi trường có đông con em đồng bào dân tộc thiểu số, tôi cho rằng, phương án sắp xếp mạng lưới trường lớp cần đảm bảo khoảng cách địa lý đến trường của học sinh không quá xa, để không tạo thêm rào cản trong con đường đến với con chữ của các em” - nữ đại biểu chia sẻ.
Đại biểu Nàng Xô Vi nhấn mạnh, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo chính là cơ sở pháp lý và định hướng chiến lược quan trọng hàng đầu trong việc tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
“Tại Công văn số 4054/BGDĐT-GDPT ngày 30/6/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đẩy mạnh sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp, cũng nêu rõ: Đẩy mạnh sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; chuyển trọng tâm từ giảm đầu mối cơ học sang tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục theo quy mô dân số, phân bố dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho người học và nâng cao chất lượng giáo dục.
Đổi mới quản trị nhà trường, mở rộng quy mô trường, lớp để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và các nguồn lực đầu tư; gắn sắp xếp cơ sở giáo dục với tinh gọn đầu mối quản lý, cơ cấu lại đội ngũ, “giảm biên chế quản lý giáo dục, tăng biên chế trực tiếp giảng dạy”; thực hiện thí điểm mô hình một trường chính, có các phân hiệu, điểm trường; hợp nhất các đầu mối quản lý để hình thành các cơ sở giáo dục có quy mô lớn.
Theo tôi, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục phát huy vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về chuyên môn trong việc đưa ra khung tiêu chí để các địa phương bám sát trong việc xây dựng phương án sáp nhập phù hợp với điều kiện từng vùng miền. Có như vậy, khi triển khai mới tránh được tình trạng “quá tải” trong công tác quản trị và đảm bảo quyền lợi, đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận giáo dục của học sinh” - nữ đại biểu phân tích.
Bên cạnh đó, nữ đại biểu nhấn mạnh, việc sắp xếp, tinh gọn lại mạng lưới không thể tiến hành một cách vội vã hay “cơ học”, mà đòi hỏi phải có lộ trình đủ dài để thực hiện và kiểm chứng hiệu quả. Bất kỳ sự thay đổi mô hình nào cũng cần thời gian để “thử lửa” qua thực tế vận hành. Do đó, cần có khoảng thời gian hợp lý để bộ máy mới đi vào ổn định, từ đó tiến hành đánh giá toàn diện các ưu - nhược điểm, đưa ra “thước đo” chuẩn xác nhất để nhận diện những “điểm nghẽn” phát sinh, từ đó có giải pháp khắc phục kịp thời, đảm bảo vừa tinh gọn vừa hiệu quả.
Chuyển trọng tâm từ “tinh gọn đầu mối” sang “nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng giáo dục”
Cùng chia sẻ về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Mai Hường - Phó Trưởng khoa Quản lý giáo dục, Trường Khoa học giáo dục (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) cho rằng việc rà soát, điều chỉnh các cơ sở giáo dục vượt quá khả năng quản trị là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ hội để các địa phương chuyển trọng tâm từ “tinh gọn đầu mối” sang nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng giáo dục.
Theo đó, cần phân biệt rõ sắp xếp tổ chức và nâng cao hiệu quả quản trị: Sáp nhập hai hay nhiều trường cần đi kèm nâng cao hiệu quả vận hành; nếu thiếu chuẩn bị, việc sáp nhập thậm chí còn làm gia tăng áp lực quản lý.
Vì vậy, việc sắp xếp mạng lưới trường lớp không nên chỉ dựa trên các chỉ tiêu định lượng đơn lẻ như số trường cần giảm, số lớp hoặc số học sinh. Cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá quy mô gắn với năng lực quản trị, trong đó xem xét đồng thời số lượng học sinh, số lớp, số điểm trường, khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông, đặc điểm người học, cơ cấu đội ngũ, năng lực quản lý và các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo Phó Giáo sư Vũ Thị Mai Hường, cần chú trọng 3 vấn đề: Một là, xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực quản trị của nhà trường. Bên cạnh tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và quy mô trường lớp, cần có các chỉ báo phản ánh khả năng vận hành thực tế, như: mức độ phù hợp của cơ cấu tổ chức; phạm vi quản lý của hiệu trưởng và các cấp quản lý trung gian; hiệu quả phân quyền; khả năng giám sát chuyên môn; hệ thống hỗ trợ học sinh; năng lực quản trị dữ liệu; khả năng ứng phó rủi ro. Qua đó, cơ quan quản lý xác định chính xác các trường đang có nguy cơ vượt quá khả năng quản trị.
Hai là, đánh giá tác động của phương án sắp xếp trước khi triển khai. Mỗi phương án cần được xem xét qua những câu hỏi cụ thể: Sau sáp nhập, thời gian di chuyển của học sinh có tăng không? Nguồn lực có được phân bổ công bằng? Cán bộ quản lý có đủ khả năng điều hành không? Hoạt động chuyên môn có được duy trì và cải thiện không? Các nhóm học sinh có nhu cầu hỗ trợ đặc biệt có bị ảnh hưởng không?
Việc đánh giá cần sử dụng dữ liệu thực tế và tham vấn các chủ thể liên quan, nhất là cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và chính quyền địa phương.
Ba là, coi nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý là điều kiện bắt buộc. Đây là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn.
Sự thay đổi về quy mô và cấu trúc tổ chức đòi hỏi những năng lực quản trị mới, không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm cũ. Đội ngũ cán bộ quản lý cần được bồi dưỡng về quản trị chiến lược, quản trị sự thay đổi, quản trị nhân sự trong tổ chức quy mô lớn, lãnh đạo dạy học, quản trị chất lượng, quản trị rủi ro và ứng dụng công nghệ số trong điều hành. Đồng thời, cần có cơ chế tư vấn, hỗ trợ chuyên môn và hướng dẫn thực hành ngay tại trường, thay vì các khóa tập huấn hình thức ngắn hạn.
Về vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phó Giáo sư Vũ Thị Mai Hường cho rằng Bộ cần phát huy mạnh mẽ vai trò định hướng chuyên môn, ban hành hoặc hướng dẫn thực hiện tiêu chí, tiêu chuẩn giáo dục, xây dựng công cụ đánh giá và hỗ trợ các địa phương nâng cao năng lực quản trị.
Trong khi đó, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về phương án tổ chức mạng lưới trường học trên địa bàn, bố trí nhân lực và nguồn lực và điều kiện hoạt động theo thẩm quyền. Sự phối hợp giữa Bộ với các bộ, ngành và địa phương là điều kiện then chốt để đảm bảo tính thống nhất nhưng vẫn phù hợp đặc thù từng địa bàn.
Đặc biệt, trong quản trị hiện đại đòi hỏi việc đánh giá và điều chỉnh là một phần của quá trình cải tiến, song, phải dựa trên bằng chứng, thực hiện kịp thời nhằm tạo sự ổn định lâu dài, tránh thay đổi liên tục gây xáo trộn hoạt động dạy học.
Từ góc độ quản trị giáo dục, cô Mai Hường nhấn mạnh, không thể nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường chỉ bằng cách thay đổi quy mô tổ chức, nếu không đồng thời đổi mới năng lực, phương thức và các điều kiện thực thi.
6 nguyên tắc để sắp xếp mạng lưới giúp quản trị tốt hơn và nâng cao chất lượng
Theo Phó Giáo sư Vũ Thị Mai Hường, việc sắp xếp mạng lưới trường lớp cần được đặt trong tổng thể đổi mới quản trị giáo dục, chuyển từ tư duy “sắp xếp để tinh gọn” sang “sắp xếp để quản trị tốt hơn và nâng cao chất lượng”. Để đạt hiệu quả thực chất, quá trình này cần tuân thủ 6 nguyên tắc cốt lõi:
Nguyên tắc thứ nhất, lấy người học và chất lượng giáo dục làm trung tâm: Thước đo thành công là điều kiện học tập, quyền tiếp cận giáo dục của học sinh và chất lượng giảng dạy được nâng lên. cần quan tâm đến học sinh ở địa bàn khó khăn, vùng xa, học sinh khuyết tật và những em cần hỗ trợ đặc biệt, tránh gia tăng khoảng cách đến trường hay giảm cơ hội học tập và tạo thêm khó khăn cho gia đình học sinh.
Nguyên tắc thứ hai, bảo đảm quy mô phù hợp với năng lực quản trị: Không nên áp dụng một mô hình sắp xếp đồng loạt cho tất cả địa phương. Quy mô trường lớp phải tương thích với năng lực quản lý, cơ sở vật chất và đặc thù địa bàn (đô thị, miền núi, nông thôn). Cần chấp nhận sự khác biệt hợp lý về mô hình tổ chức nhằm bảo đảm hiệu quả giáo dục thực chất.
Nguyên tắc thứ ba, tăng cường năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: Đây là một trong những điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với tính bền vững của quá trình sắp xếp. Cần đánh giá năng lực quản trị của đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và cán bộ quản lý trung gian trước khi giao nhiệm vụ điều hành một tổ chức có quy mô mới.
Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình bồi dưỡng theo nhu cầu thực tế, tập trung vào 5 nhóm năng lực: Năng lực quản trị chiến lược và quản trị sự thay đổi; Năng lực tổ chức bộ máy và quản trị nhân sự; Năng lực lãnh đạo dạy học và quản trị chất lượng; Năng lực quản trị số và ra quyết định dựa trên dữ liệu; Năng lực quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn trường học.
Điều quan trọng là hoạt động bồi dưỡng phải gắn với nhiệm vụ quản trị thực tế. Bên cạnh bồi dưỡng, cần tạo điều kiện để cán bộ quản lý được thực sự thực hiện quyền hạn và trách nhiệm trong phạm vi được giao. Trao trách nhiệm mà không trao quyền, hoặc yêu cầu kết quả mà không bảo đảm nguồn lực, sẽ khó tạo ra hiệu quả quản trị bền vững.
Ảnh minh hoạ: Mộc Trà.
Nguyên tắc thứ tư, phân quyền rõ ràng, tăng cường quản trị theo hướng hợp tác và trách nhiệm giải trình: Đối với những trường có quy mô lớn, mô hình quản lý tập trung mọi quyết định vào hiệu trưởng sẽ bộc lộ nhiều hạn chế. Cần xác định rõ trách nhiệm giữa hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và người phụ trách từng điểm trường.
Nguyên tắc thứ năm, tổ chức quản trị dựa trên dữ liệu và thực hiện đánh giá thường xuyên: Xây dựng hệ thống dữ liệu toàn diện phục vụ quản trị (bao gồm quy mô học sinh, đội ngũ, điều kiện học tập, kết quả giáo dục, tình hình chuyên cần, an toàn trường học và phản hồi của phụ huynh) để phát hiện sớm vướng mắc và đưa ra quyết định kịp thời. Sau sắp xếp, cần có các mốc đánh giá định kỳ để xem xét mức độ ổn định của tổ chức, chất lượng hoạt động dạy học, khả năng đáp ứng của đội ngũ và mức độ hài lòng của các bên liên quan. Khi phát hiện bất cập, cần có cơ chế hỗ trợ và điều chỉnh nhanh chóng.
Nguyên tắc thứ sáu, bảo đảm tính ổn định và có lộ trình chuyển tiếp phù hợp: Chuẩn bị kỹ lưỡng, công khai thông tin, triển khai theo lộ trình để hạn chế tối đa xáo trộn không cần thiết trong năm học, hay làm gián đoạn hoạt động chuyên môn hoặc gia tăng áp lực hành chính cho giáo viên.
Từ những phân tích trên, Phó Giáo sư Vũ Thị Mai Hường cho rằng, cùng với việc tổ chức lại mạng lưới trường học, cần đầu tư tương xứng cho phát triển năng lực quản trị của đội ngũ cán bộ quản lý, xây dựng cơ chế phân quyền phù hợp và hình thành hệ thống bảo đảm chất lượng dựa trên minh chứng.
Sắp xếp mạng lưới trường học chỉ phát huy hiệu quả khi có bộ máy quản lý đủ năng lực vận hành, giáo viên được hỗ trợ phát triển và mọi học sinh đều được bảo đảm cơ hội học tập an toàn, công bằng, chất lượng. Theo tôi, đó phải là thước đo quan trọng nhất của thành công trong quá trình sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục hiện nay” - cô Mai Hường bày tỏ.