Trường nghề đánh giá nhiều chỉ số trong dự thảo chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp quá cao

03/04/2026 06:22
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Khi số lượng người học ở mức phù hợp, nhà giáo mới có thể theo sát và giảng dạy hiệu quả cho từng học sinh.

Nhiều ý kiến từ lãnh đạo, trưởng khoa đào tạo văn hóa nghệ thuật tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp có góp ý đối với các chỉ số hoạt động theo quy định tại điều 7 của dự thảo Thông tư Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Muốn đảm bảo chất lượng đào tạo và đầu ra phải có quy định riêng cho lĩnh vực nghệ thuật

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Văn Cần – Phó trưởng khoa phụ trách Khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn cho biết, chỉ số cơ sở 4 tại điều 7 của dự thảo có quy định về tỷ lệ người học trên nhà giáo theo từng ngành, nghề và trình độ đào tạo.

Chỉ số cơ sở 4 tại điều 7 - Chỉ số hoạt động cơ sở giáo dục nghề nghiệp của dự thảo Thông tư Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp quy định: Tỷ lệ người học trên nhà giáo đáp ứng theo quy định đối với từng ngành, nghề và trình độ đào tạo. (Chưa nêu số liệu cụ thể).

Theo thầy Cần, trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt đối với các ngành nghề thuộc lĩnh vực đặc thù như văn hóa nghệ thuật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, cần áp dụng tỷ lệ người học trên nhà giáo thấp hơn so với những ngành nghề khác; với quy mô chỉ khoảng 5–10 người học/một nhà giáo, tùy theo từng ngành nghề. Bởi các ngành nghệ thuật mang tính đặc thù, đào tạo năng khiếu cho từng học sinh theo hình thức gần như “cầm tay chỉ việc”, mỗi học sinh có lộ trình và giáo án khác nhau nên không thể áp dụng một tỷ lệ chung như những ngành nghề khác. Khi số lượng người học ở mức phù hợp, nhà giáo mới có thể theo sát và giảng dạy hiệu quả cho từng học sinh; nếu lớp học quá đông sẽ khó bảo đảm chất lượng đào tạo cho lĩnh vực này.

657176331-1563415439122023-2569050327896066320-n-1.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Khoa Văn hóa Nghệ thuật Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn

Không những vậy, việc quy định tỷ lệ phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đối với các ngành nghề nghệ thuật, bởi đây là lĩnh vực đào tạo tài năng. Đặc biệt, đối với các ngành nghệ thuật truyền thống, yêu cầu về chất lượng đầu ra còn cao hơn do người học phải nắm vững kỹ thuật, kỹ năng và những giá trị đặc thù để giữ gìn bản sắc, hồn cốt của nó, vì vậy càng cần áp dụng tỷ lệ người học/nhà giáo phù hợp với đặc thù đào tạo.

Đồng tình với quan điểm trên, Thạc sĩ, Nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Ánh – Trưởng khoa Khoa Văn hóa – Nghệ thuật Trường Cao đẳng Gia Lai cho rằng, tỷ lệ người học/nhà giáo của những ngành nghề nghệ thuật chỉ nên áp dụng bằng một nửa so với những ngành nghề giáo dục nghề nghiệp khác.

Trên thực tế, để bảo đảm hiệu quả nguồn kinh phí đã đầu tư, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đào tạo nghệ thuật hiện vẫn áp dụng quy mô lớp học chung cho tất cả các ngành nghề, bao gồm cả ngành nghệ thuật, với khoảng 20–22 người học/giờ học/nhà giáo. Tuy nhiên, điều này gây nhiều khó khăn đối với các ngành nghệ thuật.

Đơn cử như với ngành thanh nhạc, mỗi người học có chất giọng khác nhau như cao, trung, trầm, âm vực và khả năng cảm thụ âm nhạc cũng khác nhau, phù hợp với từng thể loại riêng, ... nên rất khó đào tạo theo hình thức đại trà. Trong quá trình giảng dạy, nhà giáo phải luyện thanh, chỉnh âm cho từng người học, do đó cần có cơ chế đặc thù riêng về tỷ lệ người học trên nhà giáo đối với nhóm ngành này thì mới có thể bảo đảm chất lượng đào tạo đầu ra đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và xã hội.

Bên cạnh đó, việc áp dụng tỷ lệ người học trên nhà giáo phù hợp cũng góp phần bảo đảm công tác tuyển sinh đối với lĩnh vực nghệ thuật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là duy trì tuyển sinh đối với các ngành nghệ thuật truyền thống. Bởi đây là những ngành tuyển sinh đối tượng có năng khiếu, nên dù có nhiều thí sinh đăng ký nhưng không thể tuyển số lượng lớn, do đó càng cần có quy định phù hợp với đặc thù đào tạo của lĩnh vực này.

584684515-1387515350051688-3415448149953486134-n.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng Gia Lai. Ảnh: Website nhà trường.

Qua nghiên cứu dự thảo Thông tư Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Thạc sĩ Huỳnh Ngọc Hợi – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phương Đông cho rằng, một số chỉ số hoạt động quy định tại Điều 7 có thể khiến nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

Trong đó, quy định tỷ lệ ngành, nghề có sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo đạt từ 70% trở lên (Chỉ số cơ sở 10) được đánh giá là bước đi mạnh mẽ nhằm thực hiện tinh thần “đột phá” của Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, theo thầy Hợi, quy định này cũng có thể gây khó khăn đối với một số ngành nghề đặc thù hoặc truyền thống như nghệ thuật, khoa học xã hội hoặc các lĩnh vực an sinh xã hội, bởi không phải ngành nghề nào cũng dễ dàng tìm được doanh nghiệp đồng hành. Những ngành này thường không có doanh nghiệp theo nghĩa thương mại rõ ràng để liên kết đào tạo.

Thầy Hợi phân tích, với các trường đào tạo đa ngành, nhóm ngành kỹ thuật có thể đạt tỷ lệ 100% sự tham gia của doanh nghiệp, trong khi các ngành đặc thù có thể chỉ đạt khoảng 10–20%. Khi tính bình quân để đạt ngưỡng 70% trên tổng số chương trình đào tạo, áp lực đặt lên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là rất lớn, thậm chí có thể dẫn đến xu hướng hạn chế mở các ngành nghề đặc thù bởi dù cần thiết nhưng khó tìm đối tác doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, mức 70% cũng đặt ra thách thức do thiếu cơ chế ràng buộc pháp lý và lợi ích đủ mạnh đối với doanh nghiệp, cũng như các cơ sở như bệnh viện, trung tâm, phòng khám khi tham gia đào tạo. Hiện nay, việc doanh nghiệp, bệnh viện tham gia vào quá trình đào tạo tại các trường nghề chủ yếu dựa trên tinh thần tự nguyện hoặc các mối quan hệ hợp tác sẵn có. Trong khi đó, nếu không thấy lợi ích kinh tế trực tiếp hoặc lâu dài, doanh nghiệp chưa thực sự "mặn mà" tham gia.

Theo thầy Hợi, Việt Nam hiện chưa có các chính sách đủ mạnh như miễn, giảm thuế hay ưu đãi tín dụng để khuyến khích doanh nghiệp tham gia giáo dục nghề nghiệp. Khi thiếu cơ chế lợi ích, doanh nghiệp thường e ngại dành thời gian của chuyên gia để tham gia xây dựng chương trình đào tạo hoặc đánh giá người học, khiến các nhà trường khó đạt tỷ lệ 70% một cách thực chất.

Ngoài ra, sự khác biệt về trình độ và “ngôn ngữ chuyên môn” giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng là rào cản đáng kể. Trong khi nhà trường sử dụng ngôn ngữ học thuật, doanh nghiệp lại thiên về ngôn ngữ sản xuất và thực tiễn. Quy trình xây dựng chương trình đào tạo hiện hành còn mang tính hành chính, với nhiều thủ tục, hồ sơ, biểu mẫu, khiến các chuyên gia doanh nghiệp dù có kinh nghiệm thực tiễn vẫn ngại tham gia. Việc áp dụng cứng nhắc tỷ lệ 70% có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp chỉ tham gia mang tính hình thức để hoàn thiện hồ sơ thay vì đóng góp chuyên môn thực chất.

Bên cạnh đó, năng lực kết nối doanh nghiệp của đội ngũ cán bộ tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế. Nhiều giảng viên, cán bộ quản lý chưa được trang bị kỹ năng “marketing” và phát triển quan hệ doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp. Để đạt tỷ lệ 70% chương trình đào tạo có doanh nghiệp tham gia, các trường cần có bộ phận quan hệ đối ngoại hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, tại nhiều đơn vị, bộ phận này vẫn mang tính kiêm nhiệm, thiếu kinh nghiệm đàm phán và phát triển đối tác, dẫn đến hoạt động hợp tác chủ yếu dừng ở mức đưa sinh viên đi tham quan, thực tập, chưa tham gia sâu vào quá trình xây dựng và triển khai chương trình đào tạo.

Nhiều chỉ số nếu triển khai thực tế sẽ gây thách thức không nhỏ cho cơ sở đào tạo

Mặt khác, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phương Đông cũng cho rằng một số chỉ số cơ sở tại điều 7 của dự thảo có thể gây ra không ít thách thức, đặc biệt là với những trường nghề ở vùng không phải trung tâm thành phố, địa phương lớn, không gần khu công nghiệp.

Cụ thể, với chỉ số cơ sở 1, dự thảo quy định tỷ lệ tuyển sinh thực tế so với kế hoạch tuyển sinh hằng năm đạt từ 60% trở lên. Tuy nhiên, qua 5 năm đánh giá công tác tuyển sinh gần đây tại Trường Cao đẳng Phương Đông, thầy Hợi cho rằng, mục tiêu này là rất khó đạt nếu căn cứ theo giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Con số 60% có thể được xem là khiêm tốn so với các bậc học khác, nhưng đối với giáo dục nghề nghiệp lại là thách thức lớn.

Nguyên nhân chính là do xã hội vẫn còn tâm lý chuộng bằng cấp, dù đã có nhiều chính sách phân luồng nhưng định kiến “không học được đại học mới đi học nghề” vẫn còn khá nặng nề, đặc biệt tại những địa phương nhỏ, nơi tâm lý cộng đồng còn ảnh hưởng lớn đến lựa chọn của người học. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về chính sách, nguồn lực giữa các trường công lập và ngoài công lập tại một số địa phương cũng ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh. Trong khi đó, các trường nghề tại đô thị lớn có lợi thế hơn nhờ gắn với các khu công nghiệp, có cam kết việc làm, nên thu hút người học từ nhiều địa phương khác, dẫn đến tình trạng một số trường tại địa phương rơi vào “vùng trắng” tuyển sinh.

Ngoài ra, tại nhiều khu vực nông thôn, khi doanh nghiệp chưa phát triển mạnh, cơ hội việc làm tại chỗ còn hạn chế, nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông thường lựa chọn đi làm lao động phổ thông hoặc xuất khẩu lao động để có thu nhập ngay, thay vì học nghề trong 2–3 năm. Điều này càng khiến các trường nghề khó đạt tỷ lệ tuyển sinh theo quy định.

Hơn nữa, quy định này cũng có thể ảnh hưởng đến chiến lược mở ngành mới của các trường nghề. Trong những năm đầu, ngành nghề mới mở thường khó tuyển sinh. Nếu lo ngại không đạt tỷ lệ 60%, nhiều trường có thể chọn giải pháp an toàn là chỉ tuyển sinh các ngành truyền thống dễ tuyển nhưng thị trường lao động đã bão hòa, từ đó vô tình làm giảm động lực đổi mới và mở ngành đào tạo mới.

Đối với chỉ số cơ sở 7 - Tỷ lệ phòng học thực hành, thực nghiệm và thí nghiệm có hiệu suất sử dụng từ (60-100)% đạt từ 80% tổng số phòng học thực hành, thực nghiệm và thí nghiệm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, theo thầy Hợi, đây là tiêu chí định lượng nhằm tối ưu hóa nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, trong thực tế vận hành, tiêu chí này phát sinh nhiều khó khăn do đặc thù đào tạo nghề theo mô-đun, tín chỉ giữa các khối ngành. Một số mô-đun đào tạo nghề chỉ diễn ra trong thời gian ngắn từ 2–4 tuần, sau khi kết thúc, sinh viên chuyển sang học nội dung khác hoặc đi thực tập tại doanh nghiệp, khiến phòng thực hành chuyên biệt bị trống trong một khoảng thời gian. Nếu tính hiệu suất theo năm học, rất khó duy trì mức sử dụng cao mà không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Bên cạnh đó, thiết bị đào tạo nghề, đặc biệt trong các ngành kỹ thuật, sức khỏe, công nghệ cao cần có thời gian bảo trì, bảo dưỡng định kỳ. Nếu hiệu suất sử dụng quá cao, thiết bị phải hoạt động liên tục, dễ hư hỏng, làm tăng chi phí sửa chữa và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động do không có thời gian kiểm tra, hiệu chỉnh thiết bị giữa các ca học.

Đồng thời, tiêu chí này cũng có thể trở thành rào cản đối với việc mở ngành mới trong các lĩnh vực công nghệ mới như bán dẫn, hydrogen, trí tuệ nhân tạo. Trong giai đoạn đầu mở ngành, số lượng sinh viên thường ít nên các phòng thực hành mới đầu tư khó đạt hiệu suất sử dụng cao trong 1–3 năm đầu. Tương tự, đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở vùng sâu, vùng xa hoặc các trường đào tạo ngành đặc thù như nghệ thuật, nông nghiệp, quy mô lớp học nhỏ nên dù phòng học được sử dụng thường xuyên thì hiệu suất tính theo công suất thiết kế vẫn khó đạt ngưỡng theo quy định, vô hình trung tạo ra bất lợi cho các trường ở địa bàn khó khăn.

Đối với chỉ số cơ sở 11 về tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm phù hợp ngành nghề đào tạo hoặc tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học nâng cao đạt từ 70%, thầy Hợi cho rằng, đây là mức yêu cầu khá cao. Trong bối cảnh kinh tế biến động hoặc một số ngành nghề gặp khó khăn, tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm có thể giảm dù chất lượng đào tạo không thay đổi. Ngoài ra, nhiều sinh viên sau tốt nghiệp lựa chọn học liên thông, làm việc tự do hoặc làm việc ngoài địa phương, khiến nhà trường khó thống kê và xác nhận theo tiêu chí “có việc làm” theo quy định.

Ngoài ra, đối với chỉ số cơ sở 14 – mức độ hài lòng của doanh nghiệp hoặc người sử dụng lao động đối với năng lực của người học tốt nghiệp đạt từ 70% trở lên, theo thầy Hợi, để đạt được tiêu chí này, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có minh chứng đánh giá từ phía doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp không sẵn sàng cung cấp các đánh giá chi tiết bằng văn bản hoặc số liệu cụ thể cho nhà trường, trong khi hiện chưa có cơ chế bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện việc phản hồi này, dẫn đến khó khăn trong việc thu thập minh chứng theo yêu cầu.

Tường San