Phía Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, dự kiến có nhiều điều chỉnh quan trọng từ kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông đến xét tuyển. Do đó, thí sinh cần theo dõi sát quy định mới để tránh rủi ro khi đăng ký nguyện vọng.

Về quy chế tuyển sinh đại học 2026, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên viên chính Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết, Bộ đang tổng hợp ý kiến các trường nên chưa công bố dự thảo chính thức, song định hướng điều chỉnh đã khá rõ.

Cụ thể, một trong số nội dung thí sinh cần lưu ý trong tuyển sinh đại học 2026 là số lượng nguyện vọng có thể bị khống chế, dự kiến tối đa 10 nguyện vọng thay vì không giới hạn như các năm trước. [1]

Nhìn tổng thể, việc giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký là một chủ trương đúng đắn, mang lại lợi ích thiết thực cho thí sinh, nhà trường và toàn xã hội. Điều này còn giúp các trường tuyển được những thí sinh thực sự yêu thích ngành học, phù hợp với định hướng nghề nghiệp và năng lực cá nhân, từ đó nâng cao chất lượng đầu vào cũng như mức độ gắn bó của sinh viên trong quá trình học tập.

Chọn lọc nguyện vọng kỹ càng vừa nâng cao chất lượng đầu vào, vừa tăng mức độ phù hợp giữa sinh viên và ngành học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Như Khoa - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên) nhận định: “Nhìn một cách tổng thể, việc giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký là một chủ trương đúng đắn, mang lại lợi ích thiết thực cho thí sinh, nhà trường và toàn xã hội.

Thực tế trong những năm gần đây, tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên), trong khoảng hơn 4.000 thí sinh trúng tuyển mỗi năm thì đại đa số đều trúng tuyển ở các nguyện vọng từ 1 đến 4. Điều này cho thấy các thí sinh có nguyện vọng học đại học một cách nghiêm túc, định hướng ra trường để lập nghiệp đã có sự lựa chọn thông minh, đúng đắn; đồng thời, các em hiểu rõ mình mong muốn điều gì và chủ động thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, việc khống chế tổng số nguyện vọng (dự kiến 10 nguyện vọng) sẽ giúp giảm đáng kể tình trạng đăng ký dàn trải, qua đó giảm mức độ ‘ảo’ trong tuyển sinh, hỗ trợ các trường xác định điểm chuẩn, chỉ tiêu trúng tuyển chính xác và hiệu quả hơn”.

z7436210015394-40deb5aa068d8d56bb6452f0f115e167.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Như Khoa - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: NVCC

Theo thầy Khoa, việc giới hạn số lượng nguyện vọng chắc chắn sẽ góp phần giảm đáng kể lượng thí sinh ảo, từ đó giúp các cơ sở đào tạo dự báo sát thực tế hơn về số thí sinh có nhu cầu học tập thực sự. Đồng thời, quy định này còn giúp giảm chi phí cho thí sinh, giảm áp lực xử lý dữ liệu cho các trường và nâng cao hiệu quả chung của công tác tuyển sinh đại học, qua đó tiết kiệm nguồn lực cho toàn xã hội.

“Khi số lượng nguyện vọng bị khống chế, thí sinh buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn trong việc lựa chọn ngành nghề và trường học. Điều này sẽ giúp các trường, trong đó có Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên) tuyển được những thí sinh thực sự yêu thích ngành học, phù hợp với định hướng nghề nghiệp và năng lực cá nhân, từ đó nâng cao chất lượng đầu vào cũng như mức độ gắn bó của sinh viên trong quá trình học tập.

Ngoài ra, nhà trường luôn tư vấn và khuyến nghị thí sinh hãy lựa chọn một cách thông minh và có trách nhiệm. Trước hết, các em cần xác định rõ mình mong muốn theo học ngành nghề gì, ngành đó có phù hợp với xu thế phát triển và nhu cầu lao động của xã hội hay không. Bên cạnh đó, thí sinh nên tham khảo ý kiến của gia đình, thầy cô, bạn bè, đồng thời nên trực tiếp đến tham quan, tìm hiểu môi trường học tập tại ngôi trường mình dự định lựa chọn để có quyết định phù hợp nhất với năng lực bản thân”, thầy Khoa bày tỏ.

Cùng bàn vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thụ - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nhận định: “Tôi ủng hộ việc giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký xét tuyển, tối đa 10 nguyện vọng cho mỗi thí sinh. Theo tôi, đề xuất này không chỉ nhằm giảm áp lực cho hệ thống kỹ thuật, bởi trên thực tế những năm trước, dù thí sinh đăng ký rất nhiều nguyện vọng thì hệ thống vẫn vận hành ổn định và hiện nay còn tiếp tục được nâng cấp.

Theo đó, vấn đề cốt lõi nằm ở việc hạn chế sự lãng phí do thí sinh đăng ký nguyện vọng một cách dàn trải, mang tính ‘giữ chỗ’, chưa dựa trên sự phù hợp giữa năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp. Việc đăng ký quá nhiều nguyện vọng không chỉ làm tăng chi phí cho thí sinh và phụ huynh, tiêu tốn nguồn lực vận hành hệ thống, mà còn ảnh hưởng đến sự công bằng trong tuyển sinh khi có thí sinh trúng tuyển nhưng không nhập học, hoặc bỏ học sớm để thi lại vào năm sau”.

ts22.jpg
Sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: website nhà trường

Do đó, theo thầy Thụ, khi số lượng nguyện vọng được giới hạn, thí sinh sẽ buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn, xác định rõ ngành học phù hợp với bản thân và có chiến lược đăng ký thực chất hơn. Đồng thời, điều này cũng giúp các trường đại học và bộ phận tư vấn tuyển sinh thuận lợi hơn trong việc định hướng, hỗ trợ thí sinh xây dựng phương án nguyện vọng sát năng lực và tăng cơ hội trúng tuyển.

Ngoài ra, việc thí sinh buộc phải chọn lọc nguyện vọng kỹ hơn sẽ có một số tác động đến chất lượng đầu vào và mức độ phù hợp ngành học.

Thứ nhất, việc giới hạn số lượng nguyện vọng góp phần giúp thí sinh lựa chọn ngành học sát hơn với năng lực học tập của bản thân. Khi không thể đăng ký dàn trải, các em buộc phải cân nhắc kỹ tổ hợp môn thế mạnh, kết quả học tập và khả năng theo đuổi ngành học lâu dài, qua đó giúp các trường tuyển được thí sinh có nền tảng kiến thức phù hợp với yêu cầu đào tạo, nâng cao chất lượng đầu vào.

Thứ hai, lựa chọn nguyện vọng có tính chọn lọc giúp tăng mức độ chủ động và gắn bó của sinh viên ngay từ khi nhập học. Khi đã tìm hiểu kỹ về chương trình đào tạo, yêu cầu học tập và cơ hội nghề nghiệp trước khi đăng ký, sinh viên trúng tuyển thường có động lực học tập rõ ràng hơn, ý thức trách nhiệm cao hơn và hạn chế tình trạng chán học, chuyển ngành hoặc bỏ học giữa chừng.

Thứ ba, quy định này giúp hạn chế xu hướng đăng ký ngành học mang tính dự phòng hoặc “thử cơ hội”. Việc không còn đăng ký quá nhiều nguyện vọng khiến thí sinh giảm bớt các lựa chọn thiếu định hướng hoặc không có ý định theo học nghiêm túc, từ đó giúp các trường ổn định quy mô tuyển sinh và nâng cao hiệu quả tổ chức đào tạo.

“Nhìn chung, việc thí sinh phải chọn lọc nguyện vọng kỹ hơn không chỉ giúp nâng cao chất lượng đầu vào, mà còn tăng mức độ phù hợp giữa sinh viên và ngành học, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, giảm rủi ro trong quá trình học tập và đáp ứng tốt hơn mục tiêu đào tạo của nhà trường”, thầy Thụ nêu quan điểm.

Mong sớm ban hành quy chế tuyển sinh đại học 2026

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên cao cấp Võ Văn Thắng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) bày tỏ, việc giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký xét tuyển đại học là cần thiết và hợp lý. Những năm trước, thực tế có em đăng ký tới hàng chục, thậm chí hơn 200 nguyện vọng. Cách đăng ký dàn trải này vừa gây lãng phí, vừa tạo áp lực rất lớn cho hệ thống xử lý dữ liệu và khiến các trường gặp nhiều khó khăn trong khâu lọc ảo. Trong bối cảnh hạ tầng công nghệ và hệ thống tuyển sinh của giáo dục đại học còn nhiều phức tạp, việc siết lại số lượng nguyện vọng là phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay.

Theo thầy Thắng, so với tình trạng đăng ký tràn lan trước đây, quy định giới hạn số lượng nguyện vọng giúp dữ liệu xét tuyển phản ánh sát hơn nhu cầu thực chất của thí sinh. Khi không còn đăng ký dàn trải để “phòng ngừa”, thí sinh buộc phải lựa chọn những ngành, trường phù hợp hơn với năng lực và định hướng của mình.

Nhờ đó, tỷ lệ thí sinh trúng tuyển nhưng không nhập học giảm đáng kể, giúp nhà trường dự báo chính xác hơn quy mô tuyển sinh thực tế. Dữ liệu tin cậy hơn cũng tạo cơ sở để các trường xác định điểm chuẩn, chỉ tiêu phù hợp, đồng thời chủ động trong việc chuẩn bị đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và kế hoạch đào tạo.

“Ngoài ra, tôi cho rằng thí sinh khi đăng ký nguyện vọng cần xác định rõ mục tiêu của mình, bởi nếu chỉ vào được một trường nhưng học ngành không phù hợp, hệ lụy về sau là rất lớn. Vì vậy, các em cần nhìn thẳng vào mức điểm của bản thân, tham khảo điểm chuẩn những năm trước và lựa chọn nguyện vọng một cách thực tế, thay vì chạy theo các trường top đầu vượt quá khả năng.

Hiện nay, với học sinh có học lực khá, con đường vào đại học không quá khó do nhiều trường đã mở rộng cơ hội tuyển sinh. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả vẫn là chọn ngành học phù hợp với sở trường, niềm yêu thích và có tính đến biến động của thị trường lao động. Nếu không thực sự đam mê, sinh viên rất dễ bỏ ngành giữa chừng, gây lãng phí thời gian và nguồn lực. Dù các trường hiện nay đã linh hoạt hơn với cơ chế chuyển ngành, học tín chỉ hay học song bằng, nhưng một lựa chọn sai ngay từ đầu vẫn rất khó khắc phục triệt để.

Do đó, công tác tư vấn tuyển sinh cần trung thực, phân tích đầy đủ các yếu tố để thí sinh tự đưa ra quyết định. Một quyết định sai trong lựa chọn ngành, trường có thể ảnh hưởng lâu dài đến con đường học tập và nghề nghiệp của người học.

Bên cạnh đó, tôi mong muốn Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm ban hành Quy chế tuyển sinh đại học năm nay, đồng thời đưa quy định về việc giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký xét tuyển, nhằm tạo sự ổn định, minh bạch cho công tác tuyển sinh và giúp thí sinh lựa chọn ngành, trường một cách thực chất hơn”, thầy Thắng bày tỏ.

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nhung-thay-doi-quan-trong-trong-tuyen-sinh-dai-hoc-2026-11926011614494274.htm

Yên Đan