Chỉ sử dụng Ngữ liệu ngoài SGK để đánh giá thường xuyên, giữa kì môn Ngữ văn có cực đoan?

21/03/2026 07:12
Cao Nguyên
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Quá trình triển khai Chương trình môn Ngữ văn đang đứng trước nhiều cách hiểu, vận dụng khác nhau trong việc sử dụng ngữ liệu kiểm tra, đánh giá.

Một trong những quan điểm đang tồn tại ở một số địa phương, nhà trường là yêu cầu giáo viên chỉ sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa trong tất cả các hình thức đánh giá, kể cả đánh giá thường xuyên và đánh giá giữa kì.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của người viết là tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn một trường trung học phổ thông, nếu đối chiếu với các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có thể thấy rằng cách hiểu này là chưa chính xác, thậm chí có phần cực đoan.

minh-hoa.jpg

Theo tìm hiểu người viết, trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 (Chương trình) môn Ngữ văn (ban hành Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), không có quy định yêu cầu chỉ sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa trong mọi hình thức kiểm tra, đánh giá.

Chương trình môn Ngữ văn quy định, việc đánh giá kết quả học tập cuối năm học, cuối cấp học cần tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học. Nội dung này được nêu trong mục VII, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, về “Kết quả đánh giá giáo dục” như sau: “Sử dụng và khai thác ngữ liệu bảo đảm yêu cầu đánh giá được năng lực của học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép tài liệu có sẵn; tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học.”.

Cùng với đó, Công văn số 3175/BGDĐT-GDTrH năm 2022 về việc hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông cũng quy định rõ:

“c) Trong đánh giá kết quả học tập cuối học kì, cuối năm học, cuối cấp học, tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết để đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn.”

Thế nhưng trong thực tế triển khai, nhiều địa phương và nhà trường lại hướng dẫn giáo viên phải sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa cho tất cả các kì đánh giá, kể cả đánh giá giữa kì và thường xuyên.

Hệ quả là ở một số nơi, giáo viên và học sinh không còn quan tâm nhiều đến các văn bản đã được chọn lọc trong sách giáo khoa. Điều này vô hình trung làm giảm vai trò của sách giáo khoa là tài liệu dạy học chính thức được biên soạn công phu, qua nhiều vòng thẩm định.

Trong khi đó, theo định hướng của Chương trình, việc đánh giá môn Ngữ văn cần tập trung vào đánh giá năng lực và sự tiến bộ của học sinh thông qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe.

Đánh giá hoạt động đọc tập trung vào việc học sinh hiểu nội dung, chủ đề, quan điểm và ý định của người viết; nhận diện đặc điểm về kiểu văn bản, thể loại và ngôn ngữ sử dụng.

Đồng thời, học sinh cần trả lời câu hỏi theo các cấp độ tư duy, biết lập luận và giải thích cho cách hiểu của mình.

Bên cạnh đó, học sinh cần biết nhận xét, đánh giá giá trị của văn bản, bày tỏ cảm xúc và liên hệ văn bản với đời sống hoặc với các văn bản khác.

Đánh giá hoạt động viết tập trung vào yêu cầu học sinh tạo lập các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng.

Việc đánh giá kĩ năng viết cần dựa vào các tiêu chí chủ yếu như nội dung, kết cấu bài viết, khả năng biểu đạt và lập luận, hình thức ngôn ngữ và trình bày.

Đánh giá hoạt động nói và nghe tập trung vào yêu cầu học sinh nói đúng chủ đề và mục tiêu; sự tự tin, năng động của người nói; biết chú ý đến người nghe; biết tranh luận và thuyết phục; có kĩ thuật nói thích hợp; biết sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và phương tiện công nghệ hỗ trợ.

Đánh giá phẩm chất chủ yếu và năng lực chung trong môn Ngữ văn tập trung vào các hành vi, việc làm, cách ứng xử, những biểu hiện về thái độ, tình cảm của học sinh khi đọc, viết, nói và nghe; thực hiện chủ yếu bằng định tính, thông qua quan sát, ghi chép, nhận xét.

Người viết đưa ra một ví dụ cụ thể cho cách tổ chức hoạt động đọc hiểu trong sách giáo khoa là hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản “Thời gian” của Văn Cao - Ngữ văn 12 bộ Cánh Diều:

THỜI GIAN

Thời gian qua kẽ tay

Làm khô những chiếc lá

Kỷ niệm trong tôi

Rơi

như tiếng sỏi

trong lòng giếng cạn.

Riêng những câu thơ

còn xanh

Riêng những bài hát

còn xanh

Và đôi mắt em

như hai giếng nước.

(In trong Tác phẩm thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013)

Hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong sách giáo khoa được thiết kế như sau:

1. Dòng thơ đầu tiên cho thấy tác giả có cảm nhận như thế nào về thời gian?

2. Thời gian có ảnh hưởng như thế nào đến thế giới tự nhiên nói chung và nhân vật trữ tình nói riêng? Ảnh hưởng đó đem lại cảm xúc gì?

3. Hình ảnh “câu thơ”, “bài hát” tượng trưng cho điều gì? Việc lặp lại các từ “Riêng”, “còn xanh” cho thấy suy nghĩ của tác giả về mối tương quan giữa thời gian và ý nghĩa của những hình ảnh đó như thế nào?

4. Em hiểu dụng ý của nhà thơ trong hai dòng thơ cuối thế nào? Hãy giải thích cách hiểu của em.

5. Hãy chỉ ra các biểu hiện của thơ có yếu tố tượng trưng trong bài thơ Thời gian và nhận xét về tác dụng của các yếu tố ấy trong việc thể hiện nội dung tác phẩm.

6. Bài thơ đem đến cho em những suy nghĩ gì về cuộc sống?

Giả sử giáo viên sử dụng chính văn bản “Thời gian” để đánh giá thường xuyên, thầy cô hoàn toàn có thể thay đổi hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa để đánh giá năng lực học sinh theo những cách khác nhau. Ví dụ:

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.

Câu 2. Hãy chỉ ra điểm tương đồng giữa các hình ảnh “những câu thơ”, “những bài hát” và “đôi mắt em” ở sáu dòng thơ cuối.

Câu 3. Nêu dụng ý của tác giả Văn Cao khi so sánh hình ảnh “đôi mắt em” với “hai giếng nước”.

Câu 4. Từ nội dung đoạn thơ, hãy nêu suy nghĩ của anh/chị về giá trị của những điều đẹp đẽ trước sự trôi chảy của thời gian.

Như vậy, việc sử dụng ngữ liệu trong sách giáo khoa cho đánh giá thường xuyên không hề làm giảm giá trị của việc kiểm tra năng lực học sinh nếu giáo viên biết thay đổi cách đặt câu hỏi, thiết kế nhiệm vụ học tập và yêu cầu học sinh vận dụng tư duy.

Do đó, cần có sự thống nhất trong cách hiểu và cách triển khai quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tránh tình trạng áp dụng máy móc hoặc cực đoan, gây ra những tác động không mong muốn trong dạy học môn Ngữ văn hiện nay.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Cao Nguyên