Một trong những mục tiêu được đặt ra trong Quyết định số 336/QĐ-TTg về Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026–2035” là giai đoạn 2026-2030 có ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo và người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn; giai đoạn 2031 - 2035 phấn đấu mỗi năm ít nhất 70 dự án.

Liên thông giữa đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên - Phó Viện trưởng Phụ trách Học viện Chiến lược và Chính sách Khoa học Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, việc đạt mục tiêu mỗi năm tối thiểu 40 dự án giai đoạn 2026–2030 và 70 dự án giai đoạn 2031–2035 được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn không chỉ là chỉ tiêu số lượng, mà quan trọng hơn là bảo đảm chất lượng và khả năng lan tỏa, thương mại hóa các dự án khởi nghiệp trong cơ sở giáo dục.

Quá trình này cần được tổ chức theo một chu trình khép kín, bao gồm các bước: phát hiện ý tưởng - ươm tạo - sàng lọc - thẩm định - kết nối đầu tư - thương mại hóa trong hệ sinh thái khởi nghiệp giáo dục. Quy trình bảo đảm sự liên thông giữa đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo trong nhà trường.

Ở cấp cơ sở giáo dục, các trường nên thiết lập cơ chế ươm tạo và sàng lọc nhiều tầng, bao gồm các câu lạc bộ khởi nghiệp, chương trình đào tạo kỹ năng khởi nghiệp, vườn ươm và hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo.

Những dự án khởi nghiệp trước khi giới thiệu ra bên ngoài cần trải qua quá trình đánh giá nội bộ về tính khả thi công nghệ, tiềm năng thị trường, mô hình kinh doanh và năng lực của nhóm sáng lập nhằm bảo đảm các dự án khi kết nối với nhà đầu tư đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định về công nghệ, sở hữu trí tuệ và chiến lược, kế hoạch phát triển.

Các cơ sở đào tạo cũng cần xây dựng quy chế hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp và hệ thống dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp, tạo nền tảng cho việc phát triển dự án một cách chuyên nghiệp.

Sau giai đoạn ươm tạo và sàng lọc nội bộ, các dự án đủ điều kiện sẽ được đưa vào hệ thống thẩm định và kết nối đầu tư cấp ngành hoặc cấp quốc gia, thông qua các nền tảng như Cổng thông tin khởi nghiệp quốc gia, Ngày hội khởi nghiệp học sinh, sinh viên và các mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư. Quy trình này được thiết kế nhằm bảo đảm tính khách quan trong việc lựa chọn các dự án có tiềm năng cao để kết nối với doanh nghiệp và quỹ đầu tư.

Qua đó, khuyến khích hình thành các chuỗi cố vấn, đầu tư, thương mại hóa, trong đó các chuyên gia công nghệ, doanh nhân và nhà đầu tư tham gia hỗ trợ dự án từ giai đoạn đầu đến khi ra thị trường. Điều này giúp giảm rủi ro cho nhà đầu tư và nâng cao tỷ lệ thành công của dự án khởi nghiệp trong môi trường giáo dục.

Các cơ sở giáo dục có trách nhiệm bảo đảm tính minh bạch, chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công đoạn sàng lọc ban đầu. Mỗi trường nên xây dựng hệ thống đánh giá nội bộ đối với dự án khởi nghiệp và có trách nhiệm về quy trình ươm tạo, hỗ trợ và giới thiệu dự án tới nhà đầu tư.

Các đơn vị cần xác nhận rằng dự án đã trải qua quá trình đánh giá chuyên môn, có nhóm sáng lập rõ ràng, có định hướng thị trường và có khả năng phát triển tiếp theo. Việc này, vừa bảo đảm tính chuyên nghiệp trong hoạt động kết nối, kêu gọi vốn, vừa tạo niềm tin cho doanh nghiệp và quỹ đầu tư khi tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục.

Cùng bàn luận về nội dung trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đức Tính - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (Đại học Huế) cho biết: "Trước đây, chúng ta cơ bản là thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, tinh thần khởi nghiệp. Dù tạo được sự lan tỏa nhưng tỷ lệ các dự án từ ý tưởng khởi nghiệp sang doanh nghiệp khởi nghiệp rất thấp, và từ doanh nghiệp khởi nghiệp đến doanh nghiệp khởi nghiệp thành công và duy trì hoạt động lâu dài lại càng không cao. Bởi vậy, việc chuyển hướng từ trọng tâm phong trào khởi nghiệp sang khởi nghiệp có khả năng thương mại và tăng tỷ lệ startup có vốn đầu tư thực sự là hoàn toàn có lý do.

Điều này đòi hỏi sự tham gia đồng hành của nhà trường, doanh nghiệp và Nhà nước trong tất cả các bước, từ phát hiện ý tưởng đến ươm tạo, sàng lọc đánh giá, thẩm định và gọi vốn đầu tư. Các trường cần phối hợp từ đầu với các doanh nghiệp tham gia bước đầu tiên của việc phát hiện các ý tưởng, ươm tạo, thẩm định...

Cần quy định cho các trường đại học, cao đẳng có quỹ đầu tư mạo hiểm cho các ý tưởng khởi nghiệp (quy định bắt buộc). Đưa tiêu chuẩn về số lượng dự án khởi nghiệp của người học; số lượng dự án được đầu tư, số sản phẩm được thương mại hóa như một tiêu chí bắt buộc trong đánh giá cơ sở giáo dục đại học (tiêu chí cứng)".

z7616815282163-3f36556b006fc455cf7a58f569a6b788.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đức Tính - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (Đại học Huế). Ảnh: NVCC.

Tránh tình trạng kết nối mang tính hình thức hoặc ngắn hạn

Bàn luận về trách nhiệm của nhà giáo, người học khi được đầu tư, kết nối nguồn vốn cho dự án, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên chỉ ra, việc tham gia của nhà giáo và người học không chỉ dừng ở việc đề xuất ý tưởng, mà cần gắn với những cam kết rõ ràng về tính khả thi và trách nhiệm triển khai dự án.

Mỗi dự án trước khi được đưa vào ươm tạo hoặc kết nối vốn cần xác định rõ mô hình kinh doanh, công nghệ cốt lõi, kế hoạch phát triển sản phẩm và lộ trình thương mại hóa. Nhóm sáng lập cần chứng minh được năng lực triển khai, mức độ hoàn thiện của công nghệ hoặc giải pháp, cũng như khả năng tiếp cận thị trường, nhằm bảo đảm các dự án khởi nghiệp trong cơ sở giáo dục không chỉ mang tính ý tưởng, mà có khả năng phát triển thành sản phẩm hoặc doanh nghiệp khởi nguồn trong tương lai.

Bên cạnh tính khả thi của dự án, nhà giáo và người học cũng cần cam kết về tiến độ triển khai và kết quả đầu ra. Trong quá trình ươm tạo, mỗi dự án cần xây dựng kế hoạch phát triển theo các giai đoạn rõ ràng, ví như hoàn thiện sản phẩm mẫu, thử nghiệm thị trường, bảo hộ sở hữu trí tuệ và xây dựng mô hình kinh doanh. Kế hoạch này được theo dõi thông qua hệ thống đánh giá nội bộ của cơ sở giáo dục và các chương trình ươm tạo khởi nghiệp.

Đặc biệt, thầy Xuyên nhấn mạnh, nhóm dự án cần tuân thủ các quy định về xác lập quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích và công bố kết quả nghiên cứu trong trường hợp dự án hình thành từ hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường nhằm bảo đảm sự minh bạch trong quá trình phát triển dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sau này.

Các dự án khi nhận vốn hỗ trợ từ nhà trường, quỹ khởi nghiệp hoặc nhà đầu tư cần xây dựng kế hoạch sử dụng vốn chi tiết, bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm sản phẩm, hoàn thiện công nghệ và mở rộng thị trường. Trong quá trình triển khai, nhóm dự án có trách nhiệm báo cáo định kỳ về tình hình sử dụng vốn, tiến độ phát triển sản phẩm và kết quả kinh doanh.

Qua đây, bảo đảm nguồn lực đầu tư cho khởi nghiệp được sử dụng hiệu quả và nâng cao năng lực quản trị tài chính của các nhóm khởi nghiệp trẻ. Minh bạch tài chính là yếu tố quan trọng để tạo niềm tin cho doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các tổ chức tài trợ khi tham gia hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục.

Về cơ chế giám sát và xử lý vi phạm, cần xây dựng hệ thống giám sát đa tầng, bao gồm cơ sở giáo dục, đơn vị ươm tạo và cơ quan quản lý nhà nước. Các dự án khởi nghiệp sẽ được theo dõi thông qua các báo cáo tiến độ, đánh giá định kỳ và các tiêu chí đánh giá hoạt động khởi nghiệp trong cơ sở giáo dục.

Trong trường hợp phát hiện việc sử dụng vốn sai mục đích, không thực hiện đúng cam kết hoặc vi phạm các quy định về tài chính và sở hữu trí tuệ, các cơ quan quản lý có thể áp dụng các biện pháp như thu hồi kinh phí hỗ trợ, chấm dứt chương trình ươm tạo hoặc tạm dừng kết nối đầu tư đối với dự án. Cơ chế này nhằm bảo đảm kỷ cương trong hỗ trợ khởi nghiệp, tạo môi trường chuyên nghiệp, bền vững cho hệ sinh thái khởi nghiệp của học sinh, sinh viên.

dsc-1090-1536x1109.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên - Phó Viện trưởng Phụ trách Học viện Chiến lược và Chính sách Khoa học Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ). Ảnh: neu.edu.vn

Chia sẻ thêm về trách nhiệm của các doanh nghiệp và quỹ đầu tư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên cho hay, họ không chỉ tham gia với vai trò cung cấp nguồn vốn mà còn được khuyến khích, định hướng trở thành đối tác đồng hành dài hạn trong quá trình phát triển dự án khởi nghiệp.

Hệ sinh thái khởi nghiệp trong cơ sở giáo dục được xây dựng trên nền tảng liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - nhà đầu tư - cơ quan quản lý, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tư vấn quản trị, phát triển thị trường, hoàn thiện công nghệ và kết nối chuỗi giá trị.

Việc đồng hành này giúp các dự án khởi nghiệp của sinh viên không chỉ dừng ở giai đoạn ý tưởng mà có thể từng bước hình thành doanh nghiệp khởi nguồn, đóng góp cho phát triển kinh tế tri thức và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Để bảo đảm sự đồng hành thực chất, cần khuyến khích thiết lập các cơ chế hợp tác dài hạn giữa doanh nghiệp, quỹ đầu tư và cơ sở giáo dục, thông qua các hình thức như mạng lưới cố vấn khởi nghiệp, chương trình tăng tốc khởi nghiệp, đặt hàng nghiên cứu và phát triển công nghệ, hợp tác thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Doanh nghiệp tham gia chương trình không chỉ hỗ trợ vốn mà còn có thể cung cấp chuyên gia, cố vấn quản trị, cơ hội thử nghiệm sản phẩm, cũng như hỗ trợ kết nối thị trường trong và ngoài nước. Việc xây dựng các chuỗi liên kết cố vấn - đầu tư - thương mại hóa theo từng lĩnh vực công nghệ sẽ giúp nâng cao chất lượng hỗ trợ dự án, giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp khởi nghiệp trong môi trường cạnh tranh.

Ngoài ra, để tránh tình trạng kết nối mang tính hình thức hoặc ngắn hạn, Chương trình định hướng xây dựng cơ chế đánh giá, theo dõi hiệu quả hợp tác giữa doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các dự án khởi nghiệp. Các hoạt động kết nối đầu tư được gắn với các chương trình ươm tạo, tăng tốc khởi nghiệp và các nền tảng số của hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia, qua đó bảo đảm tính minh bạch, khả năng theo dõi tiến trình phát triển của dự án.

Thông qua các sự kiện thường niên như Ngày hội khởi nghiệp quốc gia của học sinh, sinh viên và các diễn đàn kết nối đầu tư, các bên tham gia có cơ hội duy trì sự hợp tác lâu dài, hình thành mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp bền vững, góp phần thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống giáo dục và nền kinh tế.

Dưới góc nhìn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quốc Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội): "Người học và nhà giáo khi tham gia khởi nghiệp cần chứng minh được sự nghiêm túc và cam kết theo đuổi dự án trong dài hạn.

Ngoài ra, cần minh bạch thông tin về các thành viên tham gia hệ sinh thái khởi nghiệp. Việc xây dựng hồ sơ, lý lịch nghề nghiệp của những người tham gia sẽ giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về kinh nghiệm, năng lực cũng như quá trình hoạt động trước đó của họ. Trên cơ sở này, quyết định đầu tư sẽ được đưa ra thông qua quá trình trao đổi và đánh giá giữa nhà đầu tư và nhóm khởi nghiệp.

Đồng thời, cả hai phía, nhà đầu tư và nhóm khởi nghiệp cần bảo đảm nguyên tắc minh bạch thông tin trong quá trình hợp tác. Có thể xây dựng những bộ mẫu thỏa thuận hoặc nguyên tắc hợp tác chung để hỗ trợ các bên tham khảo khi làm việc với nhau. Điều này đặc biệt cần thiết đối với các nhóm khởi nghiệp, bởi nhiều người trong số họ còn thiếu kinh nghiệm khi thương thảo với nhà đầu tư".

quoc-binh.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quốc Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: hus.vnu.edu.vn.

Cần cơ chế phân chia lợi ích, xử lý rủi ro rõ ràng

Làm rõ về cơ chế phân chia lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ và xử lý rủi ro giữa nhóm khởi nghiệp và doanh nghiệp, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên phân tích, việc này nên được định hướng theo nguyên tắc kết hợp giữa khung pháp lý chung của Nhà nước và sự thỏa thuận linh hoạt giữa các bên tham gia. Nhà nước ban hành các quy định nền tảng nhằm bảo đảm tính minh bạch và phù hợp với pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và đầu tư.

Trên cơ sở đó, các nhóm khởi nghiệp, doanh nghiệp và nhà đầu tư có quyền thỏa thuận cụ thể về tỷ lệ sở hữu, phân chia lợi ích, quyền khai thác tài sản trí tuệ và trách nhiệm của các bên trong quá trình phát triển dự án. Điều này vừa bảo đảm sự thống nhất về pháp lý, vừa tạo không gian linh hoạt cho các mô hình hợp tác trong hệ sinh thái khởi nghiệp.

Các dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên thường được hình thành từ kết quả nghiên cứu, sáng tạo trong nhà trường, vấn đề xác lập và quản lý quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng. Các cơ sở giáo dục nên ban hành quy chế nội bộ về xác lập, quản lý và chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ cũng như phân chia lợi ích đối với sản phẩm nghiên cứu và dự án khởi nghiệp của giảng viên, sinh viên.

Quy chế này là căn cứ để xác định rõ quyền và nghĩa vụ của nhà trường, nhóm khởi nghiệp và doanh nghiệp khi tham gia hợp tác phát triển sản phẩm hoặc thương mại hóa công nghệ. Việc làm rõ quyền sở hữu trí tuệ ngay từ giai đoạn ươm tạo sẽ giúp hạn chế tranh chấp trong quá trình đầu tư và tạo niềm tin cho các doanh nghiệp, quỹ đầu tư khi tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục.

Về vai trò điều tiết của cơ quan quản lý nhà nước, thầy Xuyên chia sẻ: "Các bộ/ngành liên quan nên tập trung xây dựng khung chính sách và các hướng dẫn chuẩn mực nhằm bảo đảm môi trường hợp tác minh bạch, thuận lợi. Cơ quan quản lý không nên can thiệp trực tiếp vào từng thỏa thuận cụ thể giữa các bên, nhưng sẽ ban hành các quy định, tiêu chí và cơ chế giám sát để bảo đảm việc phân chia lợi ích và quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện đúng pháp luật, hạn chế các rủi ro pháp lý trong quá trình đầu tư.

Thông qua các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, hệ thống ươm tạo và các nền tảng kết nối đầu tư, Nhà nước sẽ đóng vai trò điều phối, hỗ trợ tư vấn pháp lý và thúc đẩy sự hợp tác giữa cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và nhà đầu tư, qua đó hình thành môi trường khởi nghiệp thuận lợi, ổn định và có khả năng phát triển lâu dài".

Đồng tình với ý kiến trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đức Tính nhận định vấn đề phân chia lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ và xử lý rủi ro giữa nhóm khởi nghiệp với doanh nghiệp cần được thiết kế theo mô hình kết hợp giữa khung pháp lý và hợp đồng thỏa thuận giữa các bên liên quan.

Trong thực tế, mỗi dự án khởi nghiệp có đặc thù khác nhau nên tỷ lệ phân chia lợi ích thường do các bên thương lượng theo mức độ đóng góp vào dự án. Nhà nước có thể hỗ trợ về pháp lý phù hợp từ quy định pháp luật, thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, quy định sở hữu trí tuệ...

Còn theo Phó Giáo sư Trần Quốc Bình, vấn đề phân chia lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ hay cơ chế xử lý rủi ro nên được định hướng rõ trong quá trình hợp tác giữa nhóm khởi nghiệp và doanh nghiệp. Để hỗ trợ quá trình này, cần có các tổ chức trung gian, có thể do Nhà nước hoặc các trường đại học thành lập, hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận nhằm tư vấn cho các bên trong quá trình thương thảo. Các tổ chức trung gian sẽ giúp bảo đảm tính minh bạch, đồng thời hỗ trợ nhóm khởi nghiệp về các vấn đề pháp lý, điều mà nhiều người còn e ngại vì chưa có nhiều kinh nghiệm.

Hồng Linh