Giáo viên gợi ý đáp án vào 10 môn chuyên Ngữ văn ở An Giang

04/06/2026 08:26
KHÁNH VĂN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Đề thi môn chuyên Ngữ văn trong kỳ thi tuyển sinh 10, năm học 2026 - 2027 ở An Giang được nhiều thầy cô dạy Ngữ văn, học sinh dự thi đánh giá phù hợp không quá khó.

Chiều ngày 03/6, những thí sinh thi vào 3 trường Trung học phổ thông chuyên: Huỳnh Mẫn Đạt; Thoại Ngọc Hầu; Thủ Khoa Nghĩa ở tỉnh An Giang dự thi môn chuyên với thời gian làm bài 150 phút. Đề thi môn chuyên Ngữ văn được nhiều thầy cô dạy Ngữ văn, học sinh dự thi đánh giá phù hợp không quá khó.

Đề thi Ngữ văn gồm có 2 câu, câu 1 (4,0 điểm) thuộc kiểu bài nghị luận xã hội yêu cầu thí sinh viết bài văn nghị luận với chủ đề: sự thấu cảm; câu 2 (6,0 điểm) thuộc kiểu bài nghị luận văn học yêu cầu thí sinh làm sáng tỏ nhận định văn học. Người viết là giáo viên Ngữ văn trung học cơ sở gợi ý làm bài cho đề thi chuyên môn Ngữ văn của An Giang. Các em học sinh dự thi chuyên Ngữ văn vào 3 trường chuyên có thể tham khảo.

gdvn-kv.jpg
Đề thi vào chuyên Văn của tỉnh An Giang (Ảnh: Khánh Văn)

Câu 1 (4,0 điểm). Ngày nay, người trẻ đang sống trong một xã hội thay đổi không ngừng, nơi công nghệ phát triển nhanh chóng. Thông tin và sự cạnh tranh đôi khi làm phai mờ những kết nối thực sự giữa người với người, khiến con người ít quan tâm, sẻ chia, thấu hiểu, cảm thông lẫn nhau. Vì thế, việc nuôi dưỡng lòng tử tế, sự quan tâm, thấu hiểu là điều quan trọng. Đó là nền tảng giúp các bạn trẻ không chỉ thành công trong nghề nghiệp, mà còn trở thành những con người biết sống vì cộng đồng, biết yêu thương và sẻ chia.
Dưới góc nhìn của người trẻ, em hãy viết bài văn nghị luận với chủ đề: Sự thấu cảm.

* Mở bài: Xã hội ngày nay, khi công nghệ ngày càng phát triển và con người phải đối mặt với nhiều áp lực học tập, công việc, các mối quan hệ giữa người với người đôi khi trở nên xa cách. Chính vì thế, sự thấu cảm – khả năng hiểu, chia sẻ và đồng hành cùng người khác – trở thành một giá trị vô cùng cần thiết. Đối với người trẻ hôm nay, thấu cảm không chỉ giúp hoàn thiện nhân cách mà còn góp phần xây dựng một xã hội nhân văn, tốt đẹp hơn.

* Thân bài:

- Giải thích khái niệm: Thấu cảm là khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để hiểu được suy nghĩ, cảm xúc và những khó khăn họ đang trải qua. Thấu cảm không chỉ dừng lại ở việc cảm nhận mà còn thể hiện bằng sự lắng nghe, sẻ chia và giúp đỡ chân thành. Đây là một biểu hiện cao đẹp của tình yêu thương giữa con người với con người.

- Vì sao sự thấu cảm có ý nghĩa quan trọng?

+ Đối với cá nhân: giúp mỗi người sống nhân ái, bao dung hơn; rèn luyện khả năng lắng nghe và tôn trọng người khác; giúp hoàn thiện nhân cách, xây dựng những giá trị sống tích cực.

+ Đối với các mối quan hệ: giúp con người hiểu nhau hơn; hạn chế những hiểu lầm, xung đột và mâu thuẫn; tạo nên sự gắn kết trong gia đình, nhà trường và xã hội.

+ Đối với cộng đồng: lan tỏa yêu thương và tinh thần tương trợ; xây dựng môi trường sống văn minh, nhân văn; tạo động lực giúp những người khó khăn vượt qua nghịch cảnh.

- Biểu hiện của sự thấu cảm: lắng nghe người khác bằng sự chân thành; biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với mọi người; tôn trọng sự khác biệt về hoàn cảnh, tính cách, quan điểm sống; quan tâm đến người yếu thế, người gặp khó khăn; tham gia các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ cộng đồng.

- Dẫn chứng: Trong đại dịch Covid-19, nhiều cá nhân, tổ chức đã hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân gặp khó khăn.

Nhiều học sinh quyên góp sách vở, quần áo cho học sinh vùng sâu, vùng xa mỗi khi gặp bão, lũ. Các chương trình thiện nguyện, hiến máu nhân đạo luôn nhận được sự hưởng ứng của đông đảo người trẻ.

- Bàn luận mở rộng:

+ Phê phán: những người sống vô cảm, ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân; thói quen vội vàng phán xét người khác trên mạng xã hội khi chưa hiểu rõ sự việc; sự thờ ơ trước những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

+ Mở rộng: thấu cảm không đồng nghĩa với việc đồng tình mọi hành động của người khác. Cần có sự tỉnh táo để phân biệt đúng – sai, yêu thương nhưng không dung túng cho cái xấu.

- Bài học nhận thức và hành động: học cách lắng nghe nhiều hơn; sống chân thành, biết quan tâm đến mọi người; đặt mình vào vị trí của người khác trước khi đánh giá; tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng.

* Kết bài: Sự thấu cảm là chiếc cầu nối những trái tim, giúp con người xích lại gần nhau hơn trong cuộc sống. Đối với người trẻ, đây là một phẩm chất vô cùng cần thiết để trưởng thành và sống có ý nghĩa. Mỗi chúng ta cần biết yêu thương, lắng nghe và sẻ chia để góp phần xây dựng một xã hội nhân văn, giàu tình người.

Câu 2 (6,0 điểm). “Thơ (trong sự phân biệt với văn xuôi) phải đảm bảo những yếu tính thể loại của nó, đó là tính xúc cảm, tính nhạc và sự hàm súc, khêu gợi.”(Theo Lê Hồ Quang, Đọc một bài thơ, NXB Đại học Vinh, 2015, tr. 9)
Bằng hiểu biết và trải nghiệm thơ ca, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

* Mở bài: Thơ ca là tiếng nói của tâm hồn, là hình thức nghệ thuật đặc biệt của ngôn từ. Từ xưa đến nay, thơ luôn có sức hấp dẫn riêng bởi khả năng biểu đạt cảm xúc một cách tinh tế và sâu sắc. Bàn về đặc trưng của thơ, Lê Hồ Quang cho rằng: "Thơ phải đảm bảo những yếu tính thể loại của nó, đó là tính xúc cảm, tính nhạc và sự hàm súc, khêu gợi." Đây là một nhận định đúng đắn, đã chỉ ra những đặc điểm cốt lõi làm nên giá trị và sức sống của thơ ca.

* Thân bài:

- Giải thích nhận định

+ Tính xúc cảm: thơ là tiếng nói trực tiếp của cảm xúc; cảm xúc là nguồn gốc hình thành tác phẩm thơ. Nhà thơ gửi gắm vào tác phẩm những rung động chân thành trước cuộc sống. Không có cảm xúc thì không có thơ.

+ Tính nhạc: thơ có nhịp điệu và âm hưởng riêng. Tính nhạc được tạo nên bởi vần, nhịp, thanh điệu và cách tổ chức ngôn từ. Nhạc tính làm cho thơ dễ nhớ, dễ thuộc và giàu sức truyền cảm.

+ Tính hàm súc, khêu gợi: ngôn ngữ thơ cô đọng, ít lời nhưng nhiều ý. Hình ảnh thơ giàu sức gợi, mở ra nhiều tầng ý nghĩa. Người đọc có thể suy ngẫm, liên tưởng và khám phá vẻ đẹp của tác phẩm.

- Ý nghĩa nhận định: chỉ ra những đặc trưng quan trọng nhất của thơ. Khẳng định sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi.

- Chứng minh:

+ Luận điểm 1: Thơ giàu tính xúc cảm, thí sinh có thể dẫn chứng bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt. Từ đó, dẫn dắt tình cảm yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc dành cho người bà. Những kỉ niệm tuổi thơ hiện lên đầy xúc động. Cảm xúc chân thành làm rung động trái tim người đọc.

Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương hoặc bài Bác ơi của Tố Hữu để thấy được niềm xúc động, kính yêu và biết ơn đối với Bác. Những hẫng hụt khi Bác đi xa mãi mãi. Từ đó cho thấy, cảm xúc chân thành tạo nên sức sống lâu bền cho bài thơ.

+ Luận điểm 2: Thơ giàu tính nhạc. Thí sinh có thể lấy bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. Từ đó phân tích nhịp thơ nhẹ nhàng, tha thiết. Sự phối hợp hài hòa giữa thanh bằng và thanh trắc. Điệp ngữ được sử dụng linh hoạt tạo âm hưởng ngân vang.

Hoặc, có thể dẫn những đoạn thơ nhiều vần trắc như Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật để thấy được giọng thơ mạnh mẽ, khỏe khoắn, lạc quan của người lính. Bởi, nhạc tính làm tăng khả năng biểu cảm của thơ.

+ Luận điểm 3: Thơ hàm súc và giàu sức gợi. Học sinh có thể dẫn một số câu thơ trong bài Bếp lửa qua hình ảnh “bếp lửa” không chỉ là ngọn lửa thực mà nó còn tượng trưng cho tình bà, tình quê hương và nguồn cội.

Hoặc, thí sinh có thể dẫn một số câu thơ trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, như: hình ảnh “giọt long lanh rơi” gợi vẻ đẹp của mùa xuân. Gợi niềm vui, sự rung động của tâm hồn trước cuộc sống. Ngôn từ ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa.

- Đánh giá, mở rộng

+ Đánh giá: nhận định của Lê Hồ Quang hoàn toàn xác đáng khi đã chỉ ra ba đặc trưng quan trọng làm nên bản chất của thơ ca.

+ Mở rộng: ngoài những yếu tố trên, thơ còn cần có tư tưởng, tính nhân văn, sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, dấu ấn phong cách riêng của nhà thơ.

Người sáng tác (nhà thơ) phải có tâm hồn nhạy cảm và tài năng nghệ thuật. Người tiếp nhận (người đọc) cần đọc bằng cả cảm xúc và sự suy ngẫm.

* Kết bài: Nhận định của Lê Hồ Quang đã khẳng định những yếu tính làm nên vẻ đẹp của thơ ca: tính xúc cảm, tính nhạc và sự hàm súc, khêu gợi. Những đặc điểm ấy giúp thơ trở thành tiếng nói tinh tế của tâm hồn con người, có khả năng chạm đến trái tim người đọc và sống mãi cùng thời gian. Đây cũng là cơ sở quan trọng để cảm nhận và đánh giá một tác phẩm thơ hay.

Ngoài yêu cầu về nội dung như đã gợi ý ở trên, thí sinh phải xác đúng kiểu bài nghị luận về xã hội (câu 1). Thí sinh trình bày được những suy nghĩ, quan điểm của bản thân một cách thuyết phục, thấu đáo. Đảm bảo bố cục bài văn, luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng, diễn đạt mạch lạc, lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

Đối với câu 2, thí sinh xác định được yêu cầu của kiểu bài nghị luận văn học. Xác định đúng vấn đề nghị luận là bằng hiểu biết và trải nghiệm thơ ca, em hãy làm sáng tỏ nhận định. Vì thế, thí sinh cần vận dụng nhiều lý luận văn học để giải thích, chứng minh.

Hiện nay học sinh cấp trung học cơ sở, nhất là những em thi chuyên Văn đa phần là các em vừa tham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh nên khi học, khi ôn đã được thầy cô định hướng cách học, cách viết theo hướng dẫn của Công 3175/BGDĐT-GDTrH nên thí sinh có thể viết theo cách nghĩ, cách cảm riêng trên nguyên tắc không vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật thì sẽ được điểm cao.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

KHÁNH VĂN