Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư ban hành danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Dự thảo Thông tư nêu rõ các điều kiện để xem xét bổ sung ngành đào tạo mới vào danh mục ngành.
Trong đó, quy định một ngành đào tạo mới được xem xét bổ sung khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu như: có ít nhất 30% khối lượng kiến thức, kỹ năng chuyên môn cốt lõi khác với ngành đào tạo gần nhất trong danh mục ngành; có nhu cầu nguồn nhân lực thông qua các căn cứ gồm chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển ngành, lĩnh vực của Đảng, Nhà nước; nhu cầu sử dụng hoặc yêu cầu thống kê nhân lực của bộ, ngành, địa phương; kết quả khảo sát, dự báo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp sử dụng lao động.
Ngoài ra, ngành đào tạo mới phải đã được đào tạo tại ít nhất 10 cơ sở giáo dục đại học có uy tín ở nước ngoài hoặc được liệt kê trong ít nhất 2 bảng phân loại ngành đào tạo quốc tế phổ biến nhận được nhiều sự quan tâm của các cơ sở giáo dục đại học.
Cần bổ sung tiêu chí dành riêng cho các ngành đặc thù văn hóa Việt Nam
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương - Bí thư Đảng ủy Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho biết, việc đưa tiêu chí tham chiếu chương trình đào tạo của các trường đại học có uy tín ở nước ngoài vào điều kiện mở ngành là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.
“Đối với nhiều ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, rất khó tìm được chương trình đào tạo ở nước ngoài có sự tương đồng hoàn toàn để làm căn cứ đối sánh. Bởi lẽ, không ít ngành học tại Việt Nam được hình thành không đơn thuần nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực thị trường mà còn gắn với sứ mệnh gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Đây là những lĩnh vực mang tính bản địa sâu sắc, được hình thành từ lịch sử, đời sống văn hóa và đặc trưng nghệ thuật của Việt Nam nên khó có thể tìm thấy mô hình đào tạo tương ứng một cách đầy đủ ở nước ngoài.
Đơn cử như các ngành liên quan đến nghệ thuật truyền thống, sân khấu cổ truyền, nhạc cụ dân tộc hay một số chuyên ngành biểu diễn nghệ thuật đặc thù. Ngay cả trong trường hợp một số quốc gia cũng có đào tạo nghệ thuật truyền thống thì cách tiếp cận, cấu trúc chương trình, hệ thống học phần, tên gọi chuyên ngành và phương thức tổ chức đào tạo giữa các nước vẫn có sự khác biệt rất lớn. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào tiêu chí “có hay không” ngành đào tạo tương tự ở nước ngoài để xem xét cho phép mở ngành sẽ dễ dẫn đến cách hiểu phiến diện, không phản ánh đúng bản chất chuyên môn.
Nếu cơ quan quản lý, đơn vị thẩm định áp dụng tiêu chí theo hướng cơ học, chỉ đối chiếu trên tên gọi ngành học thay vì đánh giá nội hàm đào tạo và bản chất học thuật, không chỉ riêng đối với lĩnh vực nghệ thuật mà nhiều ngành khác của Việt Nam có thể rơi vào tình trạng gặp khó khăn trong mở ngành, tuyển sinh, thậm chí duy trì hoạt động đào tạo.
Trong lĩnh vực âm nhạc, hiện nay Việt Nam tồn tại mã ngành “Nhạc cụ phương Tây” nhưng bên trong bao gồm nhiều chuyên ngành biểu diễn khác nhau như violin, viola, cello, contrabass, piano, kèn gỗ, kèn đồng… Trong khi đó, tại nhiều quốc gia châu Âu - nơi có truyền thống đào tạo âm nhạc lâu đời, các cơ sở giáo dục thường không tổ chức theo tên ngành như Việt Nam mà phân chia theo khoa biểu diễn, nhóm nhạc cụ hoặc chuyên ngành cụ thể. Điều đó cho thấy cùng một nội dung đào tạo nhưng cách đặt tên và cấu trúc ngành học giữa các quốc gia có thể hoàn toàn khác nhau.
Do đó, nếu quy định đối sánh quốc tế chỉ dừng ở việc đối chiếu tên gọi ngành học, rất dễ dẫn đến cách hiểu sai rằng nước ngoài không có ngành tương ứng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xem xét cho phép đào tạo tại Việt Nam”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương nhận định.
Để tránh tạo ra khoảng trống trong công tác quản lý cũng như bảo đảm chất lượng đào tạo, dự thảo vẫn đặt ra cơ chế thay thế đối với các ngành mang tính đặc thù hoặc phục vụ trực tiếp chiến lược phát triển quốc gia. Theo đó, với các ngành thuộc lĩnh vực đào tạo giáo viên, nghệ thuật, thể thao, pháp luật, sức khỏe, an ninh, quốc phòng hoặc những ngành mới phát sinh từ nhu cầu thực tiễn trong nước, yêu cầu đối sánh với chương trình đào tạo nước ngoài có thể được thay thế bằng ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc các minh chứng đặc thù về nhu cầu nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, đối với nhiều ngành mới hình thành từ yêu cầu thực tiễn trong nước hoặc các xu hướng phát triển mới của nền kinh tế - xã hội, việc xây dựng ngay các số liệu đầy đủ để đối sánh, dự báo hay thống kê nhu cầu nhân lực là không đơn giản. Không ít lĩnh vực còn đang trong giai đoạn hình thành, thị trường lao động chưa ổn định hoặc chưa có hệ thống dữ liệu đủ lớn để lượng hóa cụ thể nhu cầu tuyển dụng.
Theo Phó Giáo sư Nguyễn Huy Phương, trong bối cảnh giáo dục đại học đang hướng tới hội nhập quốc tế, việc tham chiếu các chuẩn mực đào tạo tiên tiến là cần thiết. Tuy nhiên, chính sách cần bảo đảm tính linh hoạt, tôn trọng đặc thù văn hóa, học thuật của từng quốc gia và tránh tư duy “đồng nhất hóa” mô hình đào tạo.
Chỉ khi quy định được thiết kế chặt chẽ, rõ ràng và có hướng dẫn thực thi cụ thể, quá trình triển khai mới bảo đảm tính thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau giữa các cơ sở đào tạo, đồng thời vừa bảo đảm chất lượng mở ngành, vừa tạo điều kiện cho những lĩnh vực đào tạo đặc thù phát triển phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Đặc biệt, những quy định liên quan đến điều kiện mở ngành cần được đánh giá tác động đầy đủ, lấy ý kiến rộng rãi từ các cơ sở đào tạo và giới chuyên môn trước khi áp dụng vào thực tiễn.
Đồng quan điểm trên, Tiến sĩ Phan Lê Chung - Phó Bí thư Đảng ủy, Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế cho rằng, vấn đề cốt lõi trong quản lý mở ngành đào tạo hiện nay không nằm ở việc “có cho mở hay không”, bởi mở hay đóng ngành là hoạt động bình thường trong quá trình phát triển của các cơ sở giáo dục đại học. Điều quan trọng hơn là các tiêu chí quản lý phải được lượng hóa rõ ràng, có cơ sở thực tiễn và bảo đảm khả năng triển khai trong thực tế.
Từ góc độ đó, cần cân nhắc kỹ quy định yêu cầu tham chiếu chương trình đào tạo của các trường đại học quốc tế khi xem xét bổ sung ngành đào tạo mới. Nếu đưa ra tiêu chí này, cơ quan quản lý cần làm rõ thế nào là “trường đại học quốc tế”, thuộc nhóm nào, được xác định theo hệ thống xếp hạng hay tiêu chuẩn nào.
Bởi trên thực tế, việc tìm kiếm một số cơ sở giáo dục nước ngoài đang đào tạo ngành tương tự không phải điều quá khó, nhất là khi nhiều trường đại học tại Việt Nam hiện đã có mạng lưới hợp tác quốc tế tương đối rộng. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở yêu cầu phải có chương trình tương đồng ở nước ngoài để tham khảo thì tiêu chí này chưa phản ánh được chất lượng hay sự cần thiết của ngành đào tạo.
“Việc có trường quốc tế đào tạo ngành đó không đồng nghĩa ngành học ấy phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Đối với mọi lĩnh vực đào tạo, từ khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ đến khoa học xã hội, tiêu chí quan trọng nhất vẫn là ngành học đó có giải quyết được nhu cầu phát triển thực tiễn của đất nước, đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội và phù hợp với chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo hay không.
Ngoài ra, khi xem xét mở ngành mới, cần tập trung vào ba nhóm tiêu chí cốt lõi. Thứ nhất, ngành đào tạo phải phù hợp với nhu cầu phát triển thực tiễn của xã hội và định hướng phát triển của quốc gia. Thứ hai, ngành học phải đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, đồng thời gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nơi cơ sở giáo dục hoạt động. Thứ ba, việc mở ngành phải nằm trong chiến lược phát triển dài hạn của chính cơ sở giáo dục đại học. Chỉ khi hội tụ đầy đủ ba yếu tố này, việc mở ngành mới thực sự có ý nghĩa và bảo đảm tính khả thi.
Bên cạnh các tiêu chí về nhu cầu đào tạo, những điều kiện về đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất cũng cần được quy định theo hướng định lượng cụ thể, thay vì chỉ dừng ở các yêu cầu mang tính nguyên tắc.
Hiện nay, một số cơ sở đào tạo vẫn đang tận dụng cơ chế dùng chung đội ngũ giảng dạy cho nhiều ngành hoặc nhiều đơn vị. Tuy nhiên, nếu kéo dài, cách làm này có thể ảnh hưởng đến tính ổn định và chiều sâu chuyên môn của chương trình đào tạo. Vì vậy, điều quan trọng là các trường phải chứng minh được năng lực đào tạo thực chất thông qua đội ngũ giảng viên cơ hữu, kế hoạch phát triển nhân sự và chiến lược xây dựng nguồn nhân lực học thuật cho ngành đào tạo mới.
Không thể có chuyện số lượng giảng viên cơ hữu gần như không tăng nhưng mỗi năm lại mở thêm rất nhiều ngành đào tạo mới. Khi đó, phải đặt câu hỏi về việc đội ngũ giảng viên ở đâu để bảo đảm chất lượng đào tạo”, Tiến sĩ Phan Lê Chung nêu quan điểm.
Tiêu chí 30% khác biệt giúp hạn chế tình trạng mở ngành trùng lặp
Liên quan đến quy định ngành đào tạo mới phải có ít nhất 30% khối lượng kiến thức và kỹ năng chuyên môn cốt lõi khác với ngành gần nhất, Tiến sĩ Phan Lê Chung đánh giá đây là một bước tiến tích cực trong việc kiểm soát chất lượng và hạn chế tình trạng mở ngành trùng lặp, đổi tên ngành nhưng không tạo ra sự khác biệt đáng kể về nội dung đào tạo.
Việc đưa ra ngưỡng khác biệt tối thiểu sẽ góp phần bảo đảm các ngành đào tạo mới thực sự có giá trị học thuật riêng, đáp ứng nhu cầu nhân lực mới thay vì chỉ mở rộng danh mục ngành trên cơ sở các chương trình hiện có. Tuy nhiên, để quy định phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục làm rõ cơ sở khoa học cũng như phương pháp đánh giá mức độ khác biệt giữa các ngành đào tạo.
“Việc quy định một tỷ lệ cụ thể là cần thiết để tạo căn cứ cho công tác thẩm định. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng cần giải thích rõ cơ sở hình thành ngưỡng 30% và phương thức xác định mức độ khác biệt để các cơ sở đào tạo có thể áp dụng thống nhất.
Trong bối cảnh giáo dục đại học đang phát triển mạnh theo hướng liên ngành và tích hợp, nhiều ngành mới được hình thành từ sự giao thoa giữa các lĩnh vực khác nhau. Do đó, bên cạnh việc quy định tỷ lệ khác biệt, cần có hướng dẫn cụ thể về khái niệm “kiến thức và kỹ năng chuyên môn cốt lõi”, cũng như phương pháp đánh giá để bảo đảm tính khách quan và minh bạch trong quá trình thẩm định.
Nếu được thiết kế chặt chẽ, tiêu chí này sẽ không chỉ giúp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước mà còn tạo động lực để các cơ sở giáo dục đầu tư thực chất cho việc xây dựng chương trình đào tạo mới. Khi đó, việc mở ngành sẽ gắn với đổi mới nội dung đào tạo, cập nhật tri thức và yêu cầu nghề nghiệp thay vì chỉ điều chỉnh tên gọi hoặc cấu trúc chương trình”, Tiến sĩ Phan Lê Chung cho hay.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương, quy định này trong dự thảo là một định hướng tích cực, thể hiện nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc nâng cao chất lượng và tính minh bạch của công tác mở ngành. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi khi triển khai, cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ cách thức xác định "khối lượng kiến thức, kỹ năng chuyên môn cốt lõi khác biệt", nhất là đối với các ngành có tính đặc thù hoặc liên ngành.
Trong chương trình đào tạo đại học hiện nay, khối học phần đại cương theo quy định chung thường chiếm khoảng 20-25% tổng khối lượng chương trình. Đây là các học phần bắt buộc mà hầu hết các ngành đào tạo đều phải triển khai tương đối thống nhất. Bên cạnh đó, nhiều ngành còn có các học phần cơ sở ngành dùng chung để tạo nền tảng kiến thức cho người học.
Đối với lĩnh vực nghệ thuật, nhiều chuyên ngành trong cùng một nhóm ngành thường cùng học các học phần như lịch sử âm nhạc, hòa thanh, ký xướng âm, phân tích tác phẩm, lý luận nghệ thuật hoặc các kiến thức nền tảng về biểu diễn. Những học phần này đóng vai trò tạo nền móng chuyên môn chung trước khi người học đi vào các nội dung chuyên sâu của từng chuyên ngành cụ thể.
Chính vì đặc điểm đó nên khi đánh giá mức độ khác biệt giữa các ngành đào tạo, cần xem xét toàn diện cả mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, năng lực nghề nghiệp và các học phần chuyên sâu, thay vì chỉ dựa trên tỷ lệ các học phần có tên gọi giống hoặc tương đồng.
Trong nhiều trường hợp, các ngành có thể chia sẻ một nền tảng kiến thức chung khá lớn nhưng lại hướng tới những năng lực nghề nghiệp hoàn toàn khác nhau. Giá trị cốt lõi của chương trình đào tạo nhiều khi nằm ở các học phần chuyên ngành và quá trình thực hành nghề nghiệp.
Phó Giáo sư Nguyễn Huy Phương lấy ví dụ trong lĩnh vực âm nhạc, các chuyên ngành biểu diễn piano, violin, viola, cello hay kèn đồng đều có một số học phần cơ sở chung. Tuy nhiên, kỹ năng chuyên môn, phương pháp đào tạo, yêu cầu thực hành và chuẩn đầu ra của từng chuyên ngành lại có những khác biệt rất rõ nét. Đây cũng là đặc điểm phổ biến ở nhiều ngành đào tạo nghệ thuật và các lĩnh vực mang tính chuyên môn sâu.
Từ thực tiễn đó, thầy Phương đề xuất cơ quan quản lý có thể tiếp tục nghiên cứu, làm rõ khái niệm "kiến thức, kỹ năng chuyên môn cốt lõi", đồng thời xây dựng các hướng dẫn cụ thể để các cơ sở đào tạo có cơ sở áp dụng thống nhất. Điều này sẽ góp phần bảo đảm tính minh bạch trong quá trình thẩm định, đồng thời tạo thuận lợi cho các trường khi xây dựng đề án mở ngành mới.
Đối với các ngành nghệ thuật, văn hóa và một số lĩnh vực đào tạo đặc thù, cơ quan quản lý có thể nghiên cứu thêm các quy định hoặc hướng dẫn riêng phù hợp với đặc điểm của từng khối ngành. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý chất lượng, vừa tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo phát huy tính đặc thù và đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực.