Gắn điều kiện công nhận văn bằng với nơi người học lưu trú và học tập là không phù hợp

15/05/2026 06:28
Ngọc Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Việc gắn điều kiện công nhận văn bằng với nơi người học lưu trú và học tập là không còn phù hợp trong bối cảnh học trực tuyến có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho Dự thảo Thông tư quy định điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng nước ngoài.

Trong đó, một số quy định tại Điều 4 của dự thảo, liên quan trực tiếp đến điều kiện công nhận văn bằng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt từ các cơ sở giáo dục.

Cụ thể, các khoản 4, 5 và 6 của Điều 4 tại Dự thảo Thông tư đưa ra những yêu cầu đối với văn bằng được cấp trong các trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, đào tạo theo phương thức từ xa, cũng như quy định về tương đương trình độ và thời lượng đào tạo.

Tuy nhiên, theo phản ánh từ thực tiễn, các quy định này vẫn còn những điểm chưa thực sự rõ ràng, thậm chí có nguy cơ gây lúng túng trong quá trình áp dụng, đòi hỏi cần được tiếp tục rà soát, điều chỉnh để bảo đảm tính khả thi và phù hợp hơn với bối cảnh giáo dục đào tạo hội nhập hiện nay.

Sẽ là bất cập nếu gắn văn bằng với nơi lưu trú và học tập

Tại Khoản 4, Điều 4, dự thảo quy định: “Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam cấp được công nhận khi cơ sở giáo dục đó được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của Việt Nam cho phép hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo, mở phân hiệu, đồng thời đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này”.

Một số ý kiến cho rằng, cách diễn đạt tại Khoản 4, Điều 4 sẽ được hiểu theo hướng chỉ những chương trình có văn bản cho phép trực tiếp mới được công nhận, trong khi các chương trình liên kết đào tạo triển khai theo cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp có thể không được thừa nhận.

Bàn về nội dung trên, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Đàm Quang Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân khẳng định, với quan điểm nếu các chương trình hợp tác nào tuân thủ quy định pháp luật thì cần đương nhiên được công nhận.

Tiến sĩ Đàm Quang Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân. Ảnh: NVCC
Tiến sĩ Đàm Quang Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân. Ảnh: NVCC

Hiện nay Việt Nam có rất nhiều chương trình liên kết đào tạo quốc tế tại các trường đại học với hàng chục nghìn sinh viên đang theo học. Nhu cầu xác minh và công nhận văn bằng rất lớn vì các sinh viên này chủ yếu làm việc tại Việt Nam. Trong số đó, cũng có hàng trăm chương trình đang được thực hiện theo cơ chế tự chủ.

Chính vì thế, theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, để thuận lợi và đảm bảo cho người học thì các chương trình này đương nhiên cần được công nhận. Đơn vị công nhận có thể là các trường đại học liên kết và/hoặc cơ quan chức năng do nhà nước chỉ định.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn – Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cách diễn đạt hiện nay dễ hiểu nhầm mang tính “xin – cho”, khi gắn việc công nhận văn bằng với điều kiện phải có văn bản cho phép của cơ quan quản lý nhà nước.

Cụ thể, nếu hiểu theo dự thảo, thì chỉ những chương trình được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép trực tiếp mới được công nhận, trong khi nhiều chương trình liên kết đào tạo được triển khai hợp pháp theo cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp lại có nguy cơ không được thừa nhận. Điều này là đi ngược lại tinh thần trao quyền tự chủ đã được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Với các chương trình liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục Việt Nam và nước ngoài, khi cơ sở trong nước đủ điều kiện tự chủ và thực hiện đúng quy định, việc tự quyết định triển khai là phù hợp. Do đó, không thể hiểu theo hướng chỉ khi có quyết định của Bộ thì văn bằng mới được công nhận. Dự thảo cần được điều chỉnh theo hướng rõ ràng, bao quát hơn, nhằm thừa nhận cả các chương trình liên kết đào tạo hợp pháp được triển khai theo cơ chế tự chủ. Việc sửa đổi nên bảo đảm hai yêu cầu, vừa giữ được công cụ quản lý nhà nước, vừa không làm thu hẹp quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo trong việc hợp tác quốc tế và tổ chức đào tạo.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn – Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn – Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Còn tại Khoản 2, Điều 4 của dự thảo quy định: “Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người học theo phương thức đào tạo từ xa (thực hiện trực tuyến, trực tuyến kết hợp trực tiếp hoặc phương thức từ xa khác như thư tín, phát thanh - truyền hình…) được công nhận khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này và một trong hai điều kiện sau:

a) Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của Việt Nam cho phép đào tạo khi người học lưu trú và học tập tại Việt Nam;

b) Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi tổ chức đào tạo cho phép khi người học lưu trú và học tập tại nước đó”.

Chia sẻ về quy định trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn cho rằng, cách tiếp cận vẫn còn mang nặng tư duy quản lý theo “lưu trú và học tập”, chưa theo kịp thực tiễn đào tạo xuyên biên giới đang ngày càng phổ biến.

“Việc gắn điều kiện công nhận văn bằng với nơi người học lưu trú và học tập là không còn phù hợp trong bối cảnh học trực tuyến có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Thực tế hiện nay, nhiều giảng viên, nhà nghiên cứu vừa làm việc trong nước, vừa tham gia các chương trình đào tạo ở nước ngoài theo hình thức kết hợp, thậm chí có thể luân chuyển giữa các quốc gia trong quá trình học tập. Việc áp dụng cứng nhắc quy định về nơi cư trú sẽ rất dễ phát sinh những tình huống khó xác định và gây vướng mắc khi công nhận văn bằng”, thầy Hoàn cho biết.

Bên cạnh đó, thầy Hoàn cũng không đồng tình với việc duy trì hai điều kiện như quy định tại Khoản 5, Điều 4 của Dự thảo. Bởi, chỉ cần yêu cầu chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tổ chức đào tạo cho phép là đã đủ cơ sở pháp lý.

“Không thể để người học mất 4–5 năm theo đuổi chương trình đào tạo, đến khi trở về lại không được công nhận văn bằng chỉ vì những tiêu chí mang tính hình thức. Quy định như trong dự thảo có thể vô tình làm giảm động lực học tập và hội nhập quốc tế của người học trong nước”, thầy Hoàn chia sẻ.

Còn theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, cách tiếp cận của quy định này gắn văn bằng với địa điểm đào tạo là chưa hợp lý trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số khi các chương trình tích hợp, đào tạo từ xa, đào tạo nhiều địa điểm ngày càng trở nên phổ biến.

“Hiện nay, việc đảm bảo chất lượng theo xu hướng quốc tế đang chuyển sang đánh giá chuẩn đầu ra và kiểm định chất lượng giáo dục. Do đó, quy định chính sách cần theo kịp được xu thế này. Hay nói cách khác, không quan trọng người học ở đâu, nếu tham gia chương trình được kiểm định chất lượng giáo dục, thì đều cần được công nhận văn bằng. Vì trên thực tế, để được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục một cách nghiêm túc từ các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục uy tín, thì việc dạy ở đâu, với hình thức nào không quá quan trọng bằng đánh giá kết quả đầu ra”, Tiến sĩ Đàm Quang Minh chia sẻ.

Chính vì vậy, nội dung tại Điểm b, Khoản 5, Điều 4 nên được điều chỉnh thêm như sau: “Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi tổ chức đào tạo cho phép hoặc có kiểm định bởi các tổ chức kiểm định được công nhận”.

Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh.

Nên xây dựng khung đối sánh tương đương theo từng quốc gia hoặc hệ thống đào tạo

Đáng chú ý, Khoản 6, Điều 4 của Dự thảo cũng nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý. Cụ thể, dự thảo quy định: “Văn bằng giáo dục phổ thông, văn bằng giáo dục đại học do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được công nhận khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này và một trong các điều kiện quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều này tương ứng với các phương thức đào tạo.

Văn bằng giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được công nhận khi đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này và một trong các điều kiện quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều này tương ứng với các phương thức đào tạo; đồng thời bảo đảm tương đương về điều kiện trình độ tuyển đầu vào, tương thích về thời lượng học tập tính theo năm học hoặc theo số tín chỉ tích lũy ở cuối khóa học theo quy định của các bậc trình độ Việt Nam”.

Chia sẻ với phóng viên, thầy Trần Văn Minh - cán bộ Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng, Trường Cao đẳng Y tế Bình Định bày tỏ băn khoăn vì ngoài các điều kiện chung, văn bằng giáo dục nghề nghiệp do cơ sở nước ngoài cấp còn phải bảo đảm tương đương về trình độ đầu vào và thời lượng đào tạo so với quy định của Việt Nam.

Thầy Minh cho rằng, việc bổ sung các tiêu chí bảo đảm tương đương về điều kiện trình độ tuyển đầu vào, tương thích về thời lượng học tập tính theo năm học hoặc theo số tín chỉ tích lũy,... cho thấy xu hướng siết chặt hơn điều kiện công nhận văn bằng. Tuy nhiên, khi chúng ta chuyển từ nguyên tắc tham chiếu sang điều kiện bắt buộc, quy định có thể sẽ trở thành rào cản mới đối với người học.

“Nếu áp dụng quy định như dự thảo, nhiều trường hợp người học hoàn thành chương trình ở nước ngoài nhưng vẫn có nguy cơ không được công nhận văn bằng khi trở về, chỉ vì khác biệt về cấu trúc chương trình, thời lượng hay điều kiện đầu vào giữa các quốc gia. Điều này có thể làm gia tăng thủ tục, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định học tập của người học trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Vì vậy, chúng ta không nên quy định thêm những điều kiện như yêu cầu tương đương về đầu vào hay thời lượng đào tạo. Vì điều này có thể khiến người học e ngại, thậm chí không còn muốn đi học ở nước ngoài vì lo khó được công nhận văn bằng khi trở về. Đồng thời, cần cân nhắc điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, bảo đảm nguyên tắc công nhận tương đương nhưng không tạo thêm rào cản hành chính không cần thiết”, thầy Trần Văn Minh chia sẻ.

Hơn nữa, thầy Trần Văn Minh cũng nhấn mạnh việc một số lập luận cho rằng hệ thống giáo dục nghề nghiệp giữa các quốc gia có sự khác biệt lớn về đầu vào là chưa hoàn toàn phù hợp với bối cảnh hiện nay. Bởi, ngay tại Việt Nam, Luật Giáo dục nghề nghiệp đã cho phép triển khai các mô hình đào tạo sớm như trung học nghề, thể hiện xu hướng tiếp cận không còn quá khác biệt so với nhiều quốc gia.

Chưa kể, nếu so sánh với quy định trước đây tại Thông tư 34/2017/TT-BLĐTBXH Quy định việc công nhận đối với văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài cấp, các tiêu chí về đầu vào và thời lượng đào tạo vốn chỉ được sử dụng như nguyên tắc để đối chiếu, xác định mức độ tương đương, chứ không phải là điều kiện bắt buộc để công nhận văn bằng. Người học chỉ cần cung cấp minh chứng khi có yêu cầu hợp pháp từ cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, thầy Minh cho hay, nếu không có những căn cứ thực tiễn thật sự rõ ràng, việc bổ sung thêm điều kiện theo hướng chặt chẽ hơn so với quy định hiện hành có nguy cơ tạo ra sự thiếu nhất quán trong chính sách, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người học.

Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Phú Xuân
Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Phú Xuân

Cùng góp ý về nội dung này, Tiến sĩ Đàm Quang Minh cho rằng, quy định yêu cầu chứng minh tương đương về đầu vào và thời lượng đào tạo là rất khó khả thi trong thực tế, đồng thời có thể gây thêm gánh nặng cho người học.

"Hiện, phần lớn sinh viên theo học các chương trình thường đến từ một số hệ thống giáo dục đã có khung trình độ rõ ràng như BTEC của Vương quốc Anh hay TAFE của Australia.

Cơ quan quản lý nên xây dựng các khung đối sánh tương đương theo từng quốc gia hoặc hệ thống đào tạo. Chẳng hạn, một số trình độ như Level 5 của Vương quốc Anh hay Associate degree (AS) của Hoa Kỳ có thể được xác định tương đương với trình độ cao đẳng tại Việt Nam nếu đã có đối sánh chuẩn hóa.

Với khung đối sánh theo từng quốc gia sẽ thuận lợi hơn cho người học vì thực tế người học không thể tự chứng minh được đầu vào và thời gian học tập cũng như tín chỉ tương đương với tín chỉ của Việt Nam. Do đó, quy định nên dựa theo chuẩn đầu ra và theo khung năng lực quốc gia chứ không thể dùng chuẩn Việt Nam áp ngược lại cho các văn bằng quốc tế”, Tiến sĩ Đàm Quang Minh chia sẻ.

Ngọc Mai