Học bổng là cú hích lớn nhưng để thu hút người học các ngành khoa học trái đất cần nhiều yếu tố

15/07/2026 06:24
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP là cú hích lớn đối với việc đào tạo các ngành khoa học trái đất nhưng để thu hút người học cần cơ chế đặt hàng tuyển dụng cũng như môi trường trao đổi học thuật quốc tế.

Nhiều năm qua, các ngành thuộc nhóm ngành khoa học trái đất như: Địa chất học; Khoáng vật học và địa hóa học; Địa lý tự nhiên; Địa lý tài nguyên và môi trường; Biến đổi khí hậu; Khí tượng và khí hậu học; Thủy văn học; Hải dương học;... vẫn khó thu hút người học, nhất là đào tạo sau đại học.

Trong bối cảnh đó, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ "Quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược" được xem là cú hích tạo động lực thu hút người học mạnh dạn theo đuổi những ngành học kể trên.

Học bổng tác động tích cực, nhưng để thu hút người học cần thêm nhiều yếu tố

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành - Trưởng phòng, Phòng Công tác chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho biết, khó khăn trong tuyển sinh các ngành Địa chất học, Kỹ thuật mỏ, Khai thác mỏ và khoa học trái đất không chỉ là thực trạng ở Việt Nam mà còn diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, buộc nhiều trường đại học quốc tế phải đổi mới chương trình và định hướng đào tạo để tăng sức hút.

Theo thầy Thành, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của xã hội khi nhiều phụ huynh, học sinh vẫn cho rằng đây là những ngành nghề nặng nhọc, trong khi thực tế lĩnh vực này có thu nhập tốt, giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh tài nguyên và đang chuyển đổi mạnh mẽ nhờ công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo.

Bên cạnh đó, nhiều thí sinh có xu hướng lựa chọn các ngành kinh tế, công nghệ thông tin hay truyền thông, trong khi các ngành khai khoáng, địa chất đòi hỏi nền tảng khoa học tự nhiên và chương trình đào tạo chuyên sâu nên ít được lựa chọn, dù nhu cầu nhân lực vẫn rất lớn.

Ở bậc sau đại học, khó khăn tuyển sinh càng rõ nét hơn khi phần lớn kỹ sư sau khi tốt nghiệp đều có việc làm và thu nhập ổn định nên lựa chọn đi làm để tích lũy kinh nghiệm thay vì học tiếp. Việc theo học thạc sĩ hay tiến sĩ đồng nghĩa với việc phải tạm gác cơ hội nghề nghiệp, đầu tư thêm thời gian và chi phí, trong khi chương trình đào tạo của nhóm ngành này cũng yêu cầu nền tảng chuyên môn cao.

511588219-719182774169139-6304392055592478310-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành - Trưởng phòng, Phòng Công tác chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ảnh: website nhà trường

Do đó, Trưởng phòng, Phòng Công tác chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất khẳng định Nghị định số 179/2026/NĐ-CP là một chính sách rất tích cực, tạo cú hích quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ở lĩnh vực khoa học trái đất.

“Mức học bổng dành cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh góp phần giảm áp lực tài chính, giúp người học yên tâm theo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và nâng cao trình độ.

Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính chỉ là điều kiện cần, chưa phải yếu tố quyết định để thay đổi mạnh mẽ lựa chọn của người học, đặc biệt ở bậc sau đại học. Sức hút của các ngành như Địa chất học hay Kỹ thuật mỏ,... còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng chương trình đào tạo, năng lực đội ngũ giảng viên, hệ thống phòng thí nghiệm, điều kiện nghiên cứu, cơ hội hợp tác quốc tế và triển vọng nghề nghiệp sau tốt nghiệp.

Do đó, các cơ sở đào tạo cần nâng cao năng lực nội tại, đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp và cơ quan quản lý để người học được tham gia các dự án thực tế, tiếp cận môi trường nghiên cứu hiện đại và có lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành bày tỏ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1826/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2026 công bố danh mục các ngành đào tạo thuộc nhóm khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được áp dụng chính sách học bổng.

Theo quyết định, có 111 ngành đào tạo thuộc 15 nhóm ngành được hưởng chính sách học bổng của Chính phủ, gồm: sinh học; sinh học ứng dụng; khoa học vật chất; khoa học trái đất; toán học; thống kê; máy tính; công nghệ thông tin; kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật; kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường; vật lý kỹ thuật; kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa; kỹ thuật mỏ; xây dựng.

Theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP, sinh viên theo học các ngành thuộc danh mục được hỗ trợ học bổng từ 37-55 triệu đồng/năm, tương đương khoảng 3,7-5,5 triệu đồng/tháng. Học viên cao học và nghiên cứu sinh được hỗ trợ từ 55-84 triệu đồng/năm.

Trong khi đó, Tiến sĩ Cấn Thu Văn - Trưởng khoa, Khoa khoa Khí tượng, Thủy văn và Tài nguyên nước, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP được ban hành với mục tiêu rất rõ ràng là tạo cơ chế thu hút, nuôi dưỡng và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho những lĩnh vực đất nước đang có nhu cầu lớn nhưng nhiều năm qua gặp khó khăn trong tuyển sinh, đặc biệt ở trình độ thạc sĩ và tiến sĩ.

Theo thầy Văn, Nghị định hướng đến giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực như Khí tượng, Thủy văn, Biến đổi khí hậu, Tài nguyên nước, Hải dương học, Địa chất học..., qua đó góp phần đáp ứng những thách thức lớn mà Việt Nam đang đối mặt như biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, an ninh nguồn nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Có thể nói, đây là chính sách đầu tư cho con người nhằm giải quyết những bài toán chiến lược của đất nước trong tương lai.

Đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP sẽ tạo tác động tích cực khá rõ đến quyết định học tiếp, bởi đây là nhóm người học luôn phải cân nhắc giữa chi phí học tập, sinh hoạt với cơ hội thu nhập nếu lựa chọn đi làm ngay sau khi tốt nghiệp đại học.

ctvan.jpg
Tiến sĩ Cấn Thu Văn - Trưởng khoa, Khoa khoa Khí tượng, Thủy văn và Tài nguyên nước, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường

Mức học bổng từ 55-84 triệu đồng/năm sẽ giúp giảm đáng kể áp lực tài chính, qua đó gia tăng sức hút của các chương trình đào tạo sau đại học ở những ngành vốn khó tuyển sinh như Khí tượng và Khí hậu học, Thủy văn học, Biến đổi khí hậu hay Hải dương học.

“Việc hỗ trợ tài chính là một điều kiện rất tích cực, vừa thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa hỗ trợ trực tiếp người học giảm bớt gánh nặng về chi phí.

Dù vậy, hỗ trợ tài chính tuy quan trọng nhưng chưa phải là yếu tố duy nhất quyết định sức hút của các chương trình đào tạo sau đại học. Đối với học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh, những vấn đề như đầu ra nghề nghiệp, môi trường nghiên cứu và cơ hội phát triển chuyên môn lâu dài cũng là các yếu tố được cân nhắc rất kỹ trước khi quyết định theo học.

Vì vậy, học bổng sẽ là một "đòn bẩy" quan trọng để thu hút người học, nhưng để tạo sức hút bền vững thì chương trình đào tạo cần gắn chặt với nhu cầu nhân lực chất lượng cao, định hướng nghiên cứu ứng dụng và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp”, Trưởng khoa, Khoa Khí tượng, Thủy văn và Tài nguyên nước, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh.

Cần sớm có cơ chế đặt hàng trong đào tạo và tuyển dụng, tăng cường trao đổi học thuật quốc tế

Để chính sách học bổng phát huy hiệu quả lâu dài, góp phần thu hút và giữ chân người học ở nhóm ngành khoa học trái đất, Tiến sĩ Cấn Thu Văn cho rằng trước hết cần quy định rõ vị trí việc làm dành cho người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở các lĩnh vực này, đồng thời xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo và tuyển dụng từ các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

Theo thầy Văn, điều đó sẽ giúp học viên và nghiên cứu sinh yên tâm rằng sau khi hoàn thành chương trình học, họ có cơ hội đảm nhận những vị trí nghiên cứu hoặc công tác phù hợp với chuyên môn.

Đồng thời, cần tăng cường đầu tư cho hệ thống phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu, các đề tài nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh, để người học không chỉ được hỗ trợ về tài chính mà còn được làm việc trong môi trường học thuật chất lượng.

Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ thu nhập, phụ cấp nghiên cứu, tạo điều kiện để người học tham gia các dự án thực tiễn, công bố quốc tế và trao đổi học thuật nhằm mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài.

"Nếu học bổng giúp thu hút người học đến với chương trình đào tạo thì đầu ra nghề nghiệp, môi trường nghiên cứu và cơ chế sử dụng nhân lực sau đào tạo mới là những yếu tố quyết định họ có gắn bó lâu dài với ngành hay không", Trưởng khoa, Khoa khoa Khí tượng, Thủy văn và Tài nguyên nước, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh.

Cũng theo Tiến sĩ Cấn Thu Văn, nếu chính sách học bổng giúp gia tăng số lượng học viên theo học các ngành khoa học trái đất, các cơ sở giáo dục đại học cần chuẩn bị đồng bộ nhiều điều kiện để bảo đảm chất lượng đào tạo.

Trước hết là xây dựng đội ngũ giảng viên có chuyên môn vững, năng lực nghiên cứu và khả năng hướng dẫn luận văn, luận án theo hướng ứng dụng. Cùng với đó, cần đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị, dữ liệu và hệ thống thực hành hiện đại để tạo môi trường học tập, nghiên cứu gắn với thực tiễn và công nghệ mới.

Nhà trường cũng cần định hướng nghiên cứu vào những vấn đề lớn của đất nước như biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, dự báo thiên tai, chuyển đổi xanh và công nghệ chiến lược nhằm giúp người học thấy rõ giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu.

Đồng thời, cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và địa phương để mở rộng cơ hội tham gia đề tài, dự án, thực tập và việc làm sau tốt nghiệp.

"Muốn vừa bảo đảm chất lượng đào tạo, vừa giữ chân người học thì các trường phải xây dựng được hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - việc làm đủ mạnh, chứ không chỉ dừng lại ở việc có học bổng", vị trưởng khoa nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành cho rằng để chính sách học bổng từ Nghị định 179/2026-NĐ/CP thực sự phát huy hiệu quả thay vì chỉ tạo sức hút trong ngắn hạn, cần sớm ban hành các cơ chế và văn bản hướng dẫn cụ thể để chính sách hỗ trợ tài chính được triển khai đồng bộ, thực chất và thuận lợi.

Bên cạnh đó, thầy Thành kỳ vọng sẽ sớm có cơ chế đặt hàng trong đào tạo và tuyển dụng, qua đó doanh nghiệp đồng hành với các trường đại học trong quá trình đào tạo, sử dụng nhân lực và hỗ trợ người học ngay từ khi còn trên giảng đường.

Ngoài ra, quy mô đào tạo cần dựa trên khảo sát và dự báo nhu cầu nhân lực một cách toàn diện, tránh tình trạng các trường đào tạo vượt quá nhu cầu thực tế, gây lãng phí nguồn nhân lực, nguồn lực đầu tư, thời gian học tập cũng như kỳ vọng của người học và gia đình.

491736867-670214455732638-4698589358017621861-n.jpg
Hoạt động thực hành của học viên cao học tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ảnh: website nhà trường

Trưởng phòng, Phòng Công tác chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cũng đề xuất xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển nghề nghiệp mang tính liên thông từ thạc sĩ đến tiến sĩ, thông qua các chương trình thực tập, nghiên cứu, trao đổi học thuật quốc tế, hỗ trợ công bố khoa học, tham gia hội nghị chuyên ngành và tiếp cận các quỹ nghiên cứu.

Những chính sách này nên ưu tiên cho các đối tượng thụ hưởng Nghị định 179/2026/NĐ-CP nhằm hình thành một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, giúp người học có định hướng phát triển lâu dài.

Thầy Thành nhận định thêm, sau vài năm triển khai, khi những khóa sinh viên đầu tiên thụ hưởng chính sách tốt nghiệp, xã hội sẽ đánh giá hiệu quả của Nghị định 179/2026/NĐ-CP thông qua chất lượng nguồn nhân lực, khả năng hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần coi việc nâng cao chất lượng chương trình đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm để tạo nên hiệu quả bền vững.

Không những vậy, cần có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí lựa chọn và duy trì học bổng nhằm bảo đảm tính công bằng, tạo động lực phấn đấu cho người học. Việc xét học bổng không nên chỉ dựa vào kết quả đầu vào mà cần gắn với quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện hằng năm, đồng thời có cơ chế đánh giá định kỳ với những tiêu chí thống nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo định hướng, tránh tình trạng mỗi cơ sở đào tạo áp dụng một cách khác nhau.

“Về phía Trường Đại học Mỏ - Địa chất, nhà trường sẽ triển khai chính sách gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội, tiếp tục mở rộng các mô hình đào tạo theo địa chỉ, tăng cường hợp tác với các tập đoàn trong lĩnh vực khoáng sản, năng lượng cũng như các đối tác quốc tế để tạo cơ hội nghiên cứu, thực tập và tuyển dụng ngay trong quá trình học.

Nhà trường xác định triển khai Nghị định 179/2026/NĐ-CP gắn với chiến lược nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và tăng cường kết nối với doanh nghiệp trong lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản, năng lượng và xây dựng.

Khi người học vừa được hỗ trợ tài chính, vừa được học tập trong môi trường nghiên cứu hiện đại, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và thị trường lao động, chất lượng đào tạo sẽ được nâng lên một cách bền vững, qua đó gia tăng sức hút của các ngành Địa chất học, Kỹ thuật mỏ,... và đóng góp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển của đất nước”, Trưởng phòng, Phòng Công tác chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho hay.

Đình Nam