Từ 01/7, theo Nghị định 232, giáo viên không còn hạng I, II, III, chuyển sang bậc nghề nghiệp 2-4

01/07/2026 06:45
Bùi Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2027 phải ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Nghị định này để thay thế các quyết định về vị trí việc làm trước đó.

Ngày 26 tháng 6 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định 232/2026/NĐ-CP Quy định về vị trí việc làm viên chức có hiệu lực từ 01/7/2026.

Theo đó, từ ngày 01/7/2026, việc quản lý viên chức nói chung và giáo viên nói riêng có thêm một thay đổi quan trọng khi Nghị định 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực.

Một trong những điểm mới được nhiều giáo viên đặc biệt quan tâm là việc không còn áp dụng cách phân hạng chức danh nghề nghiệp theo hạng I, II, III như trước đây mà chuyển sang quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm. Sự thay đổi này không chỉ là điều chỉnh về tên gọi hay cách phân loại, mà còn là bước chuyển nhằm từng bước đồng bộ với mô hình quản lý theo vị trí việc làm, tạo nền tảng cho việc bố trí, sử dụng và xếp lương viên chức trong thời gian tới.

gv-gioi.png
Ảnh minh họa do AI tạo

Bậc nghề nghiệp viên chức thay cho giáo viên các hạng có hiệu lực từ 01/7

Tại Điều 7. Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

1. Bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này và được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bậc nghề nghiệp được xác định theo 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 5 là bậc cao nhất.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm trong đơn vị nhưng không vượt quá số bậc nghề nghiệp được quy định cho vị trí việc làm đó tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó theo quy định tại khoản 3 Điều này. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

3. Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới theo quy định của cấp có thẩm quyền, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Việc áp dụng bảng lương thực hiện như sau:

a) Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B;

b) Bậc 2 áp dụng lương viên chức loại A0;

c) Bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1;

d) Bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1);

đ) Bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).

4. Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.

Tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó

Tại Điều 10. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

1. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý.

2. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như sau:

a) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5 thì tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.

b) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4 thì tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.

c) Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 2 bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

3. Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định vị trí việc làm thì đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm khác với tỷ lệ quy định tại khoản 2 Điều này phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

4. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.

5. Trường hợp chưa đủ số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm ở mỗi bậc thì số còn thiếu không được cộng vào bậc thấp hơn (liền kề hoặc không liền kề). Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

vi-tri-viec-lam-1.jpg
vi-tri-viec-lam-2.jpg
Danh mục vị trí việc làm ngành, lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Quy định về chuyển từ chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông từ hạng 1-3 sang bậc nghề nghiệp 2-4 ra sao?

Tại khoản 2 Điều 18. Điều khoản chuyển tiếp quy định về chuyển từ chức danh nghề nghiệp đang giữ sang bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm như sau:

“2. Sau khi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm theo quy định tại Nghị định này, viên chức chuyển từ chức danh nghề nghiệp đang giữ sang bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm như sau:

a) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp xếp lương viên chức loại B được chuyển vào bậc 1 của vị trí việc làm và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương viên chức loại B đang hưởng.

Trường hợp tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp theo quy định tại Thông tư đã ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh theo hướng nâng trình độ đào tạo từ trung cấp lên cao đẳng (tương ứng viên chức loại A0), mà viên chức chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo theo quy định mới và đang trong thời gian thực hiện chuẩn hóa, thì được xếp vào bậc 1 của vị trí việc làm và tiếp tục hưởng lương theo bậc, hệ số lương viên chức loại B đang hưởng. Sau khi đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, viên chức được chuyển vào bậc 2 của vị trí việc làm tương ứng và áp dụng bảng lương viên chức loại A0; việc chuyển xếp lương từ loại B sang loại A0 thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

b) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp xếp lương viên chức loại A0 chuyển vào bậc 2 của vị trí việc làm và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp ở viên chức loại A0;

c) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp xếp lương viên chức loại A1 chuyển vào bậc 3 của vị trí việc làm và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp ở viên chức loại A1;

d) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp xếp lương viên chức loại A2, gồm nhóm 1 (A2.1) và nhóm 2 (A2.2) chuyển vào bậc 4 của vị trí việc làm và thực hiện xếp lương như sau: Trường hợp đang xếp lương theo bậc, hệ số lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1) thì tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp ở viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1); trường hợp đang xếp lương theo bậc, hệ số lương viên chức loại A2, nhóm 2 (A2.2) thì thực hiện chuyển xếp lương vào viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1) theo quy định của pháp luật hiện hành.

đ) Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp xếp lương viên chức loại A3, gồm nhóm 1 (A3.1) và nhóm 2 (A3.2) chuyển vào bậc 5 của vị trí việc làm và thực hiện xếp lương như sau: Trường hợp đang xếp lương theo bậc, hệ số lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1) thì tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp ở viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1); trường hợp đang xếp lương theo bậc, hệ số lương viên chức loại A3, nhóm 2 (A3.2) thì thực hiện chuyển xếp lương vào viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1) theo quy định của pháp luật hiện hành.

Sau khi bố trí vào bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, trường hợp có số lượng thực tế vượt quá tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm theo quy định tại Nghị định này đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thực hiện việc sắp xếp, bố trí để bảo đảm sau ngày 01 tháng 7 năm 2027 thực hiện đúng tỷ lệ theo quy định. Trong thời gian này, không thực hiện việc thay đổi bậc nghề nghiệp hoặc thực hiện việc tuyển dụng, tiếp nhận vào làm viên chức đối với vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm đã vượt tỷ lệ theo quy định".

Hiện nay, viên chức loại B áp dụng cho giáo viên mầm non, tiểu học chưa đạt chuẩn có hệ số lương 1,86-4,06 chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 1 có hệ số lương tương ứng.

Viên chức loại A0 áp dụng cho giáo viên mầm non hạng III có hệ số lương 2,1-4,89 được chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 2 có hệ số lương tương ứng.

Viên chức loại A1 áp dụng cho giáo viên mầm non hạng II, giáo viên phổ thông hạng III có hệ số lương 2,34-4,98 chuyển sang bậc 3.

Viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1) áp dụng cho giáo viên mầm non hạng I, giáo viên phổ thông hạng II có hệ số lương 4,0-6,38, Viên chức nhóm A2, nhóm 2 (A2.2) áp dụng cho giáo viên phổ thông hạng I có hệ số lương 4,4-6,78 được chuyển vào bậc 4 có hệ số lương 4,0-6,38.

Tóm lại, đối với giáo viên mầm non, phổ thông chuyển từ hạng sang bậc như sau:

Giáo viên mầm non hạng III chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 2 có hệ số lương 2,1-4,89.

Giáo viên mầm non hạng II, giáo viên phổ thông (tiểu học đến trung học phổ thông) hạng III chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 3 có hệ số lương 2,34-4,98.

Giáo viên mầm non hạng I, giáo viên phổ thông hạng II, giáo viên phổ thông hạng I được chuyển sang bậc nghề nghiệp bậc 4 có hệ số lương 4,0-6,38.

Theo Nghị định, chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2027, các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan đơn vị được phân cấp, ủy quyền phê duyệt vị trí việc làm phải ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Nghị định này để thay thế các quyết định về vị trí việc làm đã ban hành trước đó.

Việc chuyển từ hệ thống phân hạng chức danh nghề nghiệp sang cơ chế bậc nghề nghiệp được xem là một bước điều chỉnh hợp lý, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại theo vị trí việc làm. Cách tiếp cận này giúp khắc phục những bất cập của cơ chế phân hạng trước đây vốn còn mang tính cứng nhắc, chưa phản ánh đầy đủ mức độ đóng góp thực tế của giáo viên. Khi chuyển sang các bậc nghề nghiệp gắn với hệ số lương cụ thể, việc xếp lương trở nên minh bạch hơn, đồng thời bảo đảm sự liên thông, công bằng giữa các nhóm giáo viên ở các cấp học khác nhau. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tạo động lực phát triển nghề nghiệp lâu dài, đúng với năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ nhà giáo.

Đọc toàn văn Nghị định 232/2026/NĐ-CP TẠI ĐÂY

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Bùi Nam