Miễn phản biện độc lập khi NCS có 3 bài WoS/Scopus là tiệm cận quốc tế dù vẫn còn không ít lo ngại

27/05/2026 06:32
Ngọc Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Một số ý kiến cho rằng, đề xuất miễn phản biện độc lập với NCS khi có 3 bài báo WoS/Scopus, trong đó có 2 bài thuộc Q1 là tín hiệu tích cực nhưng cần có hướng tiếp cận thận trọng.

​Hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến về Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học, áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục khác được phép đào tạo sau đại học. Đáng chú ý, dự thảo lần đầu tiên đề xuất cơ chế miễn phản biện độc lập đối với luận án có kết quả nghiên cứu xuất sắc, đạt chuẩn quốc tế cao.

Theo đó, nghiên cứu sinh có thể được xem xét miễn phản biện độc lập khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí: có tối thiểu 3 bài báo khoa học gắn trực tiếp với nội dung luận án được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1; giữ vai trò tác giả chính (tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ); và các công bố này phải nằm trong khoảng thời gian không quá 60 tháng tính đến thời điểm đánh giá tại đơn vị chuyên môn.

Theo ghi nhận của phóng viên, đề xuất này đang thu hút sự quan tâm đặc biệt từ giới học thuật và các cơ sở đào tạo, với nhiều ý kiến đa chiều.

Nguy cơ gia tăng chênh lệch về công bố quốc tế giữa các nhóm ngành

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hoằng Bá Huyền - Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức chia sẻ, đề xuất miễn phản biện độc lập đối với luận án có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao cho thấy tư duy quản lý đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, lấy chất lượng đầu ra khoa học làm thước đo.

pgsts-le-hoang-ba-huyen.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hoằng Bá Huyền - Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: NVCC

Cơ chế miễn phản biện độc lập đối với luận án có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao, đặc biệt là khi nghiên cứu sinh có 3 bài báo khoa học gắn trực tiếp với nội dung luận án được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1 có thể mang lại nhiều tác động tích cực.

Tuy nhiên, theo thầy Huyền, khả năng công bố quốc tế giữa các lĩnh vực khoa học vẫn đang tồn tại sự khác biệt đáng kể. Trong đó, các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, y sinh thường có nhiều lợi thế hơn so với các lĩnh vực khoa học xã hội, luật, nghệ thuật, nhân văn hay một số ngành gắn với đặc thù văn hóa, giáo dục của Việt Nam. Chính vì vậy, nếu chúng ta triển khai cơ chế mới theo hướng cứng nhắc thì có thể dẫn đến nguy cơ gia tăng sự chênh lệch về công bố quốc tế giữa các nhóm ngành.

Trong khi đó, Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cũng có những chia sẻ liên quan đến điểm mới trong dự thảo.

ts-pham-xuan-khanh.jpg
Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: NVCC

“Dự thảo đề xuất việc miễn phản biện độc lập có thể giúp nghiên cứu sinh rút ngắn thời gian chờ đợi. Qua đó, giảm áp lực về tiến độ bảo vệ luận án cho nghiên cứu sinh.

Tuy nhiên, phản biện độc lập vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính khách quan và chất lượng học thuật của luận án. Cụ thể, phản biện độc lập chính là “vòng sàng lọc” trước khi luận án được đưa ra hội đồng chính thức, giúp đánh giá về tính mới, hàm lượng khoa học cũng như mức độ phù hợp giữa các công bố khoa học với nội dung nghiên cứu.

Đáng lưu ý, việc sử dụng các tiêu chí công bố bài báo quốc tế, kể cả các bài báo thuộc nhóm Q1, chưa phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ chất lượng và kết quả cuối cùng của luận án”, thầy Khánh chia sẻ.

Mặt khác, Tiến sĩ Phạm Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô, người có kinh nghiệm tham gia phản biện bài báo khoa học quốc tế, cho rằng theo quy định tại Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ, quy trình đánh giá luận án tiến sĩ hiện được thiết kế nhiều tầng, gồm đánh giá tại đơn vị chuyên môn, phản biện độc lập và hội đồng cấp cơ sở đào tạo, kèm theo các cơ chế đặc thù trong một số trường hợp. Cách tiếp cận này bảo đảm tính chặt chẽ, song cũng khiến quy trình trở nên phức tạp và kéo dài.

Do vậy, đề xuất miễn phản biện độc lập trong dự thảo được thầy Hiệp đánh giá là bước đi tích cực nhằm hỗ trợ nghiên cứu sinh.

ts-pham-hiep.jpg
Tiến sĩ Phạm Hiệp. Ảnh: NVCC

“Một bài báo quốc tế thường phải trải qua quy trình phản biện kín nhiều vòng. Nên nếu nghiên cứu sinh đã có 3 công bố quốc tế liên quan trực tiếp đến luận án thì có thể xem như đã trải qua nhiều lượt thẩm định học thuật nghiêm ngặt.

Nếu không bỏ phản biện độc lập trong trường hợp này, thì chúng ta cần đặt câu hỏi: Vì sao phản biện độc lập trong nước được coi là bảo đảm liêm chính học thuật, trong khi các vòng phản biện quốc tế đối với bài báo liên quan đến kết quả luận án lại chưa được nhìn nhận tương xứng?”, thầy Hiệp cho hay.

Cần có hướng tiếp cận phù hợp và thận trọng

Góp ý xây dựng nội dung này trong dự thảo, Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức đề xuất nên xây dựng tiêu chí mang tính đặc thù theo từng lĩnh vực, hoặc xác định đây là cơ chế lựa chọn áp dụng cho những nhóm ngành phù hợp.

“Có thể áp dụng song song, rằng với những lĩnh vực khó công bố quốc tế thì vẫn duy trì vai trò của phản biện độc lập, nhưng cũng nên theo hướng tinh gọn, giảm số lượng phản biện hoặc áp dụng cơ chế phản biện nhanh”, thầy Huyền bày tỏ.

Cùng đưa ra quan điểm, Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh cho biết, thực tế có những trường hợp bài báo khoa học chỉ đề cập đến một phần nội dung nghiên cứu, hoặc mang tính liên quan gián tiếp, chưa đủ căn cứ để khẳng định là kết quả chính của luận án. Điều này đặt ra yêu cầu phải có khâu thẩm định độc lập để đối chiếu, xác thực mức độ tương thích giữa công bố khoa học và nội dung luận án.

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý đến những rủi ro tiềm ẩn nếu loại bỏ cơ chế phản biện độc lập. Trong đó có nguy cơ phát sinh các hành vi không phù hợp với chuẩn mực liêm chính khoa học, hoặc xu hướng chạy theo số lượng và thứ hạng công bố quốc tế. Như vậy, gánh nặng đánh giá sẽ dồn lên thành viên hội đồng cuối cùng, làm gia tăng áp lực và có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của quá trình thẩm định.

“Trong trường hợp luận án chưa được phản biện độc lập một cách đầy đủ, khi đưa ra hội đồng chính thức có thể không đạt yêu cầu, dẫn đến việc nghiên cứu sinh phải kéo dài thời gian hoàn thiện, thậm chí là bảo vệ lại”, thầy Khánh chia sẻ.

Chính vì vậy, theo thầy Khánh, cần tiếp cận thận trọng với đề xuất miễn phản biện độc lập. Đồng thời, cần nhấn mạnh vai trò của cơ chế phản biện độc lập như một công cụ bảo đảm chất lượng, giúp hội đồng đánh giá có thêm cơ sở khách quan khi xem xét luận án tiến sĩ.

Trong khi đó, Tiến sĩ Phạm Hiệp cho rằng, ngưỡng điều kiện để nghiên cứu sinh được miễn phản biện độc lập như dự thảo đề xuất là phù hợp, song chưa đủ để tạo ra bước đột phá thực sự trong cải cách quy trình đào tạo tiến sĩ.

Theo thầy Hiệp, cần tiếp tục cân nhắc khả năng tinh giản các khâu đánh giá, như rút gọn các hội đồng trung gian hoặc điều chỉnh hình thức bảo vệ theo hướng linh hoạt hơn, trên cơ sở nghiên cứu sinh đã có minh chứng công bố quốc tế rõ ràng.

Thầy Hiệp cũng phân tích thêm, tại một số quốc gia, cơ chế phản biện độc lập không được tổ chức như ở Việt Nam. Thay vào đó, việc đánh giá tập trung vào chất lượng công bố khoa học và thẩm định của hội đồng chuyên môn.

“Cần mở rộng hơn nữa các cơ chế khuyến khích đối với nghiên cứu sinh có công bố quốc tế chất lượng cao. Đồng thời, cần tiếp tục đơn giản hóa quy trình đánh giá luận án và bổ sung các chính sách khen thưởng, hỗ trợ phù hợp cho nghiên cứu sinh có bài báo Q1. Qua đó, góp phần tạo động lực thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong đào tạo tiến sĩ”, thầy Hiệp đề xuất.

Ngọc Mai