Nhân dịp ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới, chuyên gia chia sẻ giải pháp xây dựng liêm chính học thuật

26/04/2026 06:26
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo một số chuyên gia và nhà khoa học, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đúng cách và xây dựng cơ chế giải trình minh bạch để ngăn ngừa đạo văn.

Từ năm 2000, ngày 26/4 hàng năm được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) chọn là Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới nhằm tôn vinh vai trò của sáng tạo và hệ thống sở hữu trí tuệ trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững. Đây là dịp để cộng đồng học thuật cùng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ các thành quả trí tuệ ở mọi mặt trong cuộc sống.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng phổ biến, vấn đề liêm chính học thuật trong thực hiện luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay các công bố khoa học đang đặt ra nhiều thách thức với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu.

Theo một số chuyên gia và nhà khoa học, liêm chính học thuật giữ vai trò nền tảng trong nghiên cứu khoa học, bảo đảm rằng mọi kết quả được tạo ra đều trung thực, minh bạch, đồng thời gắn liền với việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ thông qua trích dẫn đầy đủ, chính xác các nguồn tài liệu tham khảo.

Không nên cấm AI tuyệt đối, cần nâng cao trách nhiệm giải trình của người học và nhà khoa học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Mạnh - Viện trưởng, Viện Khoa học Công nghệ năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng cần nhìn nhận vấn đề sở hữu trí tuệ trong bối cảnh AI đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu.

Theo vị viện trưởng, hiện nay ngay cả nhiều tạp chí khoa học quốc tế uy tín cũng đã cho phép tác giả sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ trong quá trình viết bài, với điều kiện có sự chỉnh sửa, chịu trách nhiệm và ghi nhận phù hợp. Do đó, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc “có sử dụng AI trong thực hiện luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay không”, mà ở mục đích và cách thức sử dụng công cụ này.

thay-manh.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Mạnh - Viện trưởng, Viện Khoa học Công nghệ năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Ảnh: Thi Thi

Trí tuệ nhân tạo cũng như các phương tiện khác, giúp con người truy xuất thông tin nhanh hơn, có hệ thống hơn, nhưng việc sử dụng ở mức độ nào, có trung thực hay không hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi cá nhân.

Vì vậy, xây dựng văn hóa liêm chính học thuật trước hết phải bắt đầu từ sự tự trọng và trách nhiệm của người làm khoa học, chứ khó có thể chỉ dựa vào các quy định hay tiêu chuẩn mang tính hình thức”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Mạnh bày tỏ.

Viện trưởng, Viện Khoa học Công nghệ năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nhấn mạnh rằng, các giải pháp kỹ thuật hay công cụ phát hiện đạo văn chỉ đóng vai trò hỗ trợ, trong khi yếu tố quyết định vẫn là đạo đức và ý thức nghề nghiệp của người nghiên cứu.

Với yêu cầu đặt ra ngày càng cao, quá trình thẩm định của hội đồng khoa học phải được thực hiện một cách khoa học, nghiêm túc và chuẩn mực.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân biệt đâu là nội dung do con người tự nghiên cứu và đâu là sản phẩm có sự hỗ trợ của AI là một thách thức rất lớn, thậm chí “cực kỳ khó”. Đây không chỉ là vấn đề của riêng một cơ sở đào tạo mà còn là băn khoăn chung của cộng đồng khoa học, khi đến nay vẫn chưa có phương pháp thực sự hiệu quả để nhận diện một cách rạch ròi.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Long Giang - Phó Viện trưởng, Viện Công nghệ Thông tin (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) khẳng định, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng tham gia sâu vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo, các chuẩn mực về liêm chính học thuật không nên đi theo hướng cấm đoán tuyệt đối, mà cần được cập nhật theo hướng minh bạch, kiểm soát và nâng cao trách nhiệm giải trình của người học và nhà khoa học.

Điều then chốt là phải thừa nhận AI như một công cụ hỗ trợ hợp pháp, tương tự như các phần mềm thống kê hay công cụ xử lý dữ liệu trước đây, nhưng đồng thời cần yêu cầu người sử dụng phải công khai rõ ràng việc sử dụng AI ở khâu nào, với mục đích gì. Sự minh bạch không chỉ giúp đảm bảo tính trung thực, mà còn tạo ra một chuẩn mực mới phù hợp với thực tiễn nghiên cứu hiện đại.

thay-giang-vcntt.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Long Giang - Phó Viện trưởng, Viện Công nghệ Thông tin (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Ảnh: vast.gov.vn

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Long Giang cho rằng một điểm quan trọng khác đối với vấn đề sở hữu trí tuệ là cách thức đánh giá trong đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cũng cần được điều chỉnh. Theo đó, việc đổi mới phương thức đánh giá không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo mà còn góp phần bảo vệ giá trị của các sản phẩm trí tuệ trong nghiên cứu khoa học.

Cụ thể, thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng như luận văn, luận án hay bài báo khoa học, các cơ sở đào tạo nên chú trọng hơn đến quá trình nghiên cứu và năng lực thực của người học, thông qua các hình thức như phỏng vấn, bảo vệ chuyên sâu, hay yêu cầu giải trình phương pháp và dữ liệu. Điều này giúp phân biệt rõ giữa năng lực thật và sản phẩm có thể đã được hỗ trợ quá mức bởi công nghệ.

“Tôi cho rằng thay vì lo ngại trí tuệ nhân tạo làm suy giảm chất lượng học thuật, chúng ta nên chủ động tích hợp đào tạo về kỹ năng sử dụng AI một cách có đạo đức và hiệu quả. Khi người học hiểu rõ cả lợi ích lẫn giới hạn của AI, họ sẽ biết cách khai thác công cụ này để nâng cao chất lượng nghiên cứu, thay vì phụ thuộc hoặc lạm dụng.

Bài toán không nằm ở việc có cho phép sử dụng AI hay không, mà là xây dựng được một hệ thống chuẩn mực đủ linh hoạt để khuyến khích đổi mới sáng tạo, nhưng vẫn giữ vững các giá trị cốt lõi của học thuật như sự trung thực, minh bạch và trách nhiệm”, Phó Viện trưởng, Viện Công nghệ Thông tin (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho hay.

Xây dựng giải pháp liêm chính học thuật thông qua 3 “trụ cột”, đề cao vai trò người hướng dẫn

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Chính - Trưởng phòng, phòng Vật liệu và ứng dụng quang sợi, Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nhận định, trong bối cảnh áp lực công bố quốc tế ngày càng gia tăng, rủi ro vi phạm liêm chính học thuật trước hết xuất phát từ một số nguyên nhân phổ biến.

Trước hết là tình trạng đạo văn và tự đạo văn - lỗi thường gặp nhất - bắt nguồn từ hạn chế trong kỹ năng diễn đạt, đặc biệt khi nhiều nghiên cứu sinh và cán bộ khoa học gặp khó khăn trong việc diễn giải lại ý tưởng của người khác bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, dẫn đến việc sao chép nguyên văn.

Bên cạnh đó, không ít người còn hiểu chưa đúng khi cho rằng có thể sử dụng nguyên văn các phần lý thuyết nền tảng nếu đã trích dẫn, hoặc lặp lại nội dung từ chính các công bố trước của mình, kể cả ở phần thực nghiệm – trong khi các tạp chí quốc tế hiện kiểm soát rất chặt chẽ mức độ trùng lặp.

Một vấn đề khác là hiện tượng “cắt lát” công bố, khi một nghiên cứu được chia nhỏ thành nhiều bài báo nhằm gia tăng số lượng công bố, làm suy giảm giá trị khoa học tổng thể. Ngoài ra, những vi phạm đạo đức trong công bố cũng đang trở nên đáng lo ngại, đặc biệt là sự xuất hiện của các dịch vụ viết bài thuê nhằm phục vụ mục tiêu gia tăng thành tích công bố và cải thiện thứ hạng.

vu-duc-chinh.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Chính - Trưởng phòng, phòng Vật liệu và ứng dụng quang sợi, Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Ảnh: NVCC

Vị chuyên gia cũng khẳng định Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới là dịp để nhìn nhận rõ hơn mối quan hệ giữa bảo vệ thành quả sáng tạo và việc tuân thủ các chuẩn mực học thuật, từ đó đề cao trách nhiệm cá nhân trong hoạt động nghiên cứu và công bố khoa học.

"Việc xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền và liêm chính học thuật không thể đạt được trong thời gian ngắn mà đòi hỏi một quá trình bền bỉ, lâu dài. Theo tôi, giải pháp căn cơ trước hết vẫn nằm ở việc tăng cường vai trò của người hướng dẫn trong việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ các công bố của nghiên cứu sinh, bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực học thuật ngay từ đầu.

Khi xảy ra vi phạm liêm chính học thuật, người hướng dẫn và chủ nhiệm đề tài đương nhiên phải chịu trách nhiệm giải trình, song đó luôn là tình huống không ai mong muốn. Vì vậy, quan điểm của tôi là “phòng hơn chống”, cần đặt trọng tâm vào khâu kiểm soát ngay từ trước khi công bố.

Cụ thể, trước khi cho phép một công trình được công bố chính thức, người hướng dẫn hoặc chủ nhiệm đề tài cần chủ động sử dụng các phần mềm kiểm tra đạo văn, rà soát và chỉnh sửa nội dung nhằm bảo đảm tỷ lệ trùng lặp nằm trong ngưỡng cho phép, qua đó hạn chế tối đa rủi ro vi phạm và nâng cao chất lượng học thuật của công bố.

Ngoài ra, các cơ quan quản lý cần đầu tư và triển khai các phần mềm kiểm soát trùng lặp, phát hiện đạo văn một cách chuyên nghiệp, qua đó thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả và đồng bộ", Trưởng phòng, phòng Vật liệu và ứng dụng quang sợi, Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chia sẻ.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Long Giang, nếu tiếp cận từ góc độ xây dựng văn hóa nghiên cứu, thì việc chuyển từ “chống vi phạm” sang “chủ động liêm chính” thực chất là một quá trình tái thiết hệ giá trị và cơ chế vận hành của toàn hệ thống học thuật. Điều này không thể chỉ dựa vào quy định hay chế tài, mà phải đồng thời tác động vào ba trụ cột: đào tạo - đánh giá - đãi ngộ.

Trước hết, về đào tạo, cần chuyển liêm chính học thuật từ một nội dung “học cho có” sang một năng lực cốt lõi xuyên suốt quá trình đào tạo. Cần thiết kế các học phần bắt buộc không chỉ dừng ở quy định đạo văn, mà nên đi sâu vào các tình huống thực tế như xử lý dữ liệu, công bố khoa học, sử dụng AI, hay xung đột lợi ích. Quan trọng hơn, phải xây dựng cơ chế “học qua thực hành”, trong đó người học được tham gia trực tiếp vào các dự án nghiên cứu có giám sát, được hướng dẫn cách ghi chép, lưu vết, công bố và chịu trách nhiệm với dữ liệu của mình.

Với đội ngũ giảng viên - đặc biệt là giáo sư, phó giáo sư, cần có các chương trình bồi dưỡng định kỳ về đạo đức nghiên cứu và vai trò nêu gương, bởi văn hóa liêm chính không thể hình thành nếu thiếu “chuẩn mực sống” từ những người dẫn dắt.

Về cơ chế đánh giá, theo Phó Viện trưởng, Viện Công nghệ Thông tin (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đây là điểm then chốt cần cải cách mạnh. Khi hệ thống vẫn còn đặt nặng số lượng bài báo, chỉ số công bố hay hình thức đầu ra, thì áp lực “thành tích” sẽ tiếp tục tạo ra động cơ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Do đó, cần chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên chất lượng và tính minh bạch của quá trình nghiên cứu, chẳng hạn yêu cầu công khai dữ liệu, mã nguồn, nhật ký nghiên cứu; đánh giá khả năng giải trình khoa học thay vì chỉ đọc sản phẩm cuối - đúng như tinh thần tôn trọng sản phẩm trí tuệ của Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới.

t3-mo-ptn-dot-2-2.jpg
Hoạt động nghiên cứu của nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ảnh: vast.gov.vn

Đối với nghiên cứu sinh, các buổi bảo vệ cần đi sâu vào năng lực tư duy và hiểu biết thực chất. Đối với giảng viên và nhà khoa học, cần bổ sung tiêu chí về đóng góp học thuật bền vững, như hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng nhóm nghiên cứu, hay thực hành khoa học mở, thay vì chỉ tính điểm công bố.

Cuối cùng, về chính sách đãi ngộ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Long Giang cho rằng nếu không giải quyết bài toán này thì rất khó tạo ra sự thay đổi bền vững. Một hệ thống mà thu nhập, thăng tiến hay danh tiếng phụ thuộc quá nhiều vào sản lượng ngắn hạn sẽ vô hình trung khuyến khích hành vi đối phó.

Vì vậy, cần thiết kế cơ chế đãi ngộ ổn định, dài hạn để nhà khoa học yên tâm theo đuổi nghiên cứu nghiêm túc, không bị áp lực chạy theo số lượng. Đồng thời, chú trọng ghi nhận và tôn vinh các thực hành liêm chính như công bố dữ liệu mở, nghiên cứu có khả năng tái lập, cũng như những đóng góp thầm lặng như phản biện hay cố vấn học thuật, qua đó từng bước hình thành chuẩn mực chung trong nghiên cứu.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Mạnh, việc xây dựng các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ, sử dụng AI trong nghiên cứu cần được cân nhắc thận trọng, dựa trên các nghiên cứu sâu và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế.

“Nếu quy định quá chặt có thể trở thành rào cản, kìm hãm sự phát triển và sáng tạo; ngược lại, nếu buông lỏng sẽ tiềm ẩn nguy cơ gian lận học thuật. Do đó, cần tiếp cận theo hướng vừa học hỏi các chuẩn mực quốc tế, vừa điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam”, Viện trưởng, Viện Khoa học Công nghệ năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) bày tỏ.

Đình Nam