Một số cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo những ngành học nằm trong danh mục các ngành trình độ đại học về đường sắt tại chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học đã và đang tích cực đưa ra những chiến lược để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ lĩnh vực này.

Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải là một trong những đơn vị đang đào tạo nhân lực đường sắt với ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông.

Giải pháp quan trọng để Việt Nam chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực đường sắt trong dài hạn

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Tuấn - Phó trưởng khoa Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải cho hay, chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học được xây dựng theo hướng khoa học, hiện đại và phù hợp với thực tiễn, đóng vai trò như một khung tham chiếu quan trọng cho các cơ sở giáo dục đại học.

Theo thầy Tuấn, chuẩn này không chỉ giúp các trường chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo nền tảng để phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành đường sắt và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

Trước hết, chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học tạo ra một cơ sở thống nhất để các trường xây dựng và triển khai chương trình theo định hướng rõ ràng, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc thiếu đồng bộ; đồng thời bảo đảm nội dung đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành đường sắt hiện đại. Nhờ vậy, các cơ sở giáo dục đại học sẽ thuận lợi hơn trong thiết kế học phần, phân bổ hợp lý giữa lý thuyết và thực hành, cập nhật công nghệ mới cũng như đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá người học.

Hơn nữa, bộ chuẩn này còn góp phần nâng cao tính minh bạch và chất lượng đào tạo; tạo điều kiện để doanh nghiệp và xã hội dễ dàng đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên. Đồng thời, những quy định cụ thể về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và hệ thống bảo đảm chất lượng sẽ hỗ trợ các trường thuận lợi hơn trong công tác kiểm định, đầu tư phát triển và cải tiến chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế.

Qua đó, các cơ sở đào tạo có thể nâng cao uy tín, chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng hiệu quả yêu cầu phát triển của ngành đường sắt trong giai đoạn mới.

khoa-cong-trinh-1.jpg
Sinh viên Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải trong giờ học thực tế. Ảnh: NTCC

Cũng theo thầy Tuấn, việc ban hành chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học được xem là nền tảng quan trọng để các trường hiện thực hóa các mục tiêu trong Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 của Chính phủ.

Cụ thể, 04 phân nhóm theo cấu trúc hệ thống của công nghiệp đường sắt gồm: xây dựng và quản lý xây dựng; hệ thống điện, thông tin tín hiệu, điều khiển; phương tiện đường sắt; kinh tế và khai thác vận tải đường sắt trong chuẩn chương trình đào tạo này đã bám sát với các nhóm ngành trong đề án trên; đồng thời thể hiện sự tương thích với mô hình đào tạo đường sắt tại nhiều quốc gia phát triển.

Mục tiêu cụ thể theo nhóm ngành của từng giai đoạn đã được nêu rõ trong Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 của Chính phủ:

Với giai đoạn 2025 - 2030, nhóm ngành kỹ thuật xây dựng công trình đường sắt khoảng 4.700 người; nhóm ngành kỹ thuật xây dựng khoảng 16.300 người; nhóm ngành thông tin - tín hiệu đường sắt khoảng 3.700 người; nhóm ngành hệ thống điện và năng lượng đường sắt khoảng 1.100 người; nhóm ngành đầu máy - toa xe khoảng 1.700 người; nhóm ngành kinh tế xây dựng và kinh tế vận tải đường sắt khoảng 1.500 người; nhóm ngành khai thác vận tải đường sắt khoảng 6.000 người.

Với giai đoạn 2031 - 2035, nhóm ngành kỹ thuật xây dựng công trình đường sắt khoảng 12.300 người; nhóm ngành kỹ thuật xây dựng khoảng 21.400 người; nhóm ngành thông tin - tín hiệu đường sắt khoảng 9.300 người; nhóm ngành hệ thống điện và năng lượng đường sắt khoảng 7.600 người; nhóm ngành đầu máy - toa xe khoảng 8.000 người; nhóm ngành kinh tế xây dựng và kinh tế vận tải đường sắt khoảng 2.100 người; nhóm ngành khai thác vận tải đường sắt khoảng 9.300 người.

Không những vậy, chuẩn này còn tạo điều kiện để các trường nâng cao chất lượng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và gắn với thực tiễn doanh nghiệp. Các yêu cầu cụ thể về chuẩn đầu ra, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, công nghệ, thực hành – thực tập và năng lực vận hành hệ thống đường sắt hiện đại sẽ giúp người học đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các dự án công nghệ tiên tiến. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao, hướng tới mục tiêu ít nhất 35.000 nhân lực theo Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 của Chính phủ.

Ngoài ra, bộ chuẩn còn góp phần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các đối tác quốc tế trong đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Qua đó, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn được rút ngắn, đồng thời tạo điều kiện để các trường tiếp cận kinh nghiệm quốc tế trong đào tạo nhân lực đường sắt tốc độ cao.

"Có thể thấy, việc xây dựng và triển khai chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học không chỉ giúp nâng cao hiệu quả đào tạo tại nhiều cơ sở giáo dục mà còn là giải pháp quan trọng để Việt Nam chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ chiến lược phát triển ngành đường sắt trong dài hạn", thầy Tuấn nói.

Chương trình đào tạo gắn chặt với nhu cầu thực tiễn, định hướng phát triển của đường sắt hiện đại

Thông tin thêm về ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông (thuộc nhóm ngành cốt lõi trong danh mục các ngành trình độ đại học về đường sắt) mà Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải đang đào tạo, Phó Giáo sư Nguyễn Quang Tuấn cho biết, đây là ngành cung cấp nhân lực trực tiếp đảm nhiệm các khâu từ thiết kế, xây dựng đến khai thác và duy tu hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt.

Những vị trí việc làm của ngành này đã xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu trong chuỗi hình thành và phát triển lĩnh vực đường sắt. Do đó, trước bối cảnh hiện nay, nhu cầu nhân lực không chỉ cần số lượng lớn mà còn cần trong thời gian sớm. Đặc biệt là khi Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển các tuyến đường sắt đô thị và chuẩn bị triển khai dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn về Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông ngày càng trở nên cấp thiết.

Theo thầy Tuấn, lực lượng này không chỉ đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm tiến độ và chất lượng các dự án mà còn là nhân tố quan trọng trong quá trình tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao công nghệ đường sắt hiện đại. Bên cạnh việc cung cấp nhân lực cho các dự án trong nước, ngành học còn góp phần hình thành đội ngũ chuyên gia, giảng viên và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đường sắt – yếu tố then chốt để phát triển bền vững ngành đường sắt Việt Nam trong dài hạn.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, đặc biệt là phục vụ các dự án trọng điểm của đất nước, Trường Đại học Giao thông vận tải đã xác định đào tạo nhân lực cho ngành đường sắt là một trong những hướng ưu tiên và chiến lược cho định hướng phát triển lâu dài.

Trên cơ sở đó, ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông của Khoa Công trình, nhất là các chuyên ngành Đường sắt, Đường sắt đô thị và Đường sắt tốc độ cao đang được tập trung đầu tư, hướng tới trở thành lực lượng nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đường sắt.

Điểm nổi bật của chương trình đào tạo ngành học này là được xây dựng theo hướng gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và định hướng phát triển của hệ thống đường sắt hiện đại. Bên cạnh nền tảng kiến thức chung về kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, chương trình còn tăng cường các học phần chuyên sâu như kết cấu hạ tầng đường sắt, thiết kế tuyến, nền đường, cầu – hầm, tổ chức thi công, bảo trì công trình và ứng dụng công nghệ mới trong quản lý, vận hành hệ thống. Đồng thời, hoạt động thực hành, thí nghiệm, mô phỏng và thực tập tại doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh nhằm giúp sinh viên sớm thích nghi với môi trường làm việc thực tế.

Việc mở các chuyên ngành đặc thù như Đường sắt, Đường sắt đô thị và Đường sắt tốc độ cao cũng nhằm tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận trực tiếp với công nghệ, yêu cầu kỹ thuật và đặc trưng của từng loại hình, từ thiết kế, thi công đến khai thác, quản lý và vận hành. Đây là lợi thế quan trọng khi tham gia thị trường lao động, nhất là trong bối cảnh nhiều dự án đường sắt quy mô lớn đang và sẽ được triển khai.

Bên cạnh tính đặc thù, ngành học Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông còn mang dấu ấn kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Với hơn 60 năm đào tạo trong lĩnh vực giao thông và đường sắt, Khoa Công trình đã xây dựng nền tảng chuyên môn vững chắc cùng đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm; đẩy mạnh phát triển mạng lưới cựu sinh viên, chuyên gia đang làm việc tại các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và dự án lớn. Trên nền tảng này, chương trình đào tạo liên tục được cập nhật theo hướng hiện đại, tích hợp những công nghệ mới như dữ liệu lớn, BIM, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và quản lý hạ tầng thông minh.

Ngoài ra, nhà trường cũng triển khai đa dạng các hình thức đào tạo như chính quy, liên thông, văn bằng hai và đào tạo từ xa nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận cho người học; tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, đơn vị quản lý đường sắt và đối tác quốc tế, nhằm góp phần nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng hội nhập cho sinh viên.

Thông tin thêm, thầy Tuấn cho biết, một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của Trường Đại học Giao thông vận tải là nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Hiện, nhà trường đang đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng thông qua nhiều khóa đào tạo, tập huấn trong và ngoài nước; cử cán bộ trẻ tham gia những chương trình học bổng, đào tạo tiến sĩ tại các quốc gia có ngành đường sắt phát triển. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia có khả năng tiếp cận, làm chủ và chuyển giao công nghệ tiên tiến.

Song song với phát triển nhân lực giảng dạy, chương trình đào tạo cũng thường xuyên được rà soát, cập nhật theo hướng phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và các dự án đường sắt hiện đại. Nhà trường đang từng bước đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, hệ thống học liệu và mô hình mô phỏng nhằm nâng cao năng lực thực hành, nghiên cứu cho sinh viên. Đồng thời, các hoạt động hội thảo khoa học, hợp tác học thuật và nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đường sắt cũng được tăng cường nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tiếp cận kinh nghiệm quốc tế.

Cùng với đó, việc kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp, đơn vị tư vấn, thi công và quản lý trong lĩnh vực đường sắt giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tế công trường, dự án ngay từ khi còn học, qua đó nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.

“Có thể thấy, với chiến lược phát triển đồng bộ từ chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất đến hợp tác doanh nghiệp và nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Giao thông vận tải đang từng bước giải quyết bài toán nguồn nhân lực đường sắt – một yêu cầu cấp bách hiện nay, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển ngành đường sắt theo định hướng của Chính phủ đến năm 2035, tầm nhìn 2045”, thầy Tuấn nhấn mạnh.

Tạo nhiều thuận lợi cho cơ sở đào tạo và người học

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Mỹ Hà – Trưởng khoa Khoa Điện – Điện tử, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay định hướng phát triển đào tạo nhân lực ngành đường sắt của chúng ta đang được triển khai theo hướng mở các chuyên ngành hoặc chương trình đào tạo phục vụ trực tiếp cho lĩnh vực này từ những ngành học có liên quan. Người học sau khi tốt nghiệp từ các chương trình đào tạo chuyên sâu này có thể đảm nhận công việc với mức độ chuyên môn hóa cao trong lĩnh vực đường sắt.

Theo thầy Hà, cách tiếp cận theo hướng xây dựng chuyên ngành hoặc chương trình đào tạo từ các ngành trình độ đại học liên quan đến đường sắt như vậy mang lại nhiều lợi thế cho người học.

Cụ thể, với định hướng đào tạo chuyên sâu, các chương trình đào tạo này được thiết kế theo hướng giúp sinh viên làm chủ công nghệ, phát triển kỹ năng, khả năng sáng tạo, cũng như hình thành năng lực học tập suốt đời và cập nhật tri thức liên tục. Điều này giúp người học thích ứng tốt trước những biến động của công nghệ và xu hướng thị trường, giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm.

616830317-122150357588816235-6181760394155760658-n.jpg
Sinh viên Khoa Điện – Điện tử, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.

Lấy ví dụ trong lĩnh vực điện – điện tử, thầy Tuấn cho biết, bên cạnh các vị trí việc làm truyền thống như làm việc tại nhà máy điện, hệ thống điều khiển tự động, viễn thông hay xử lý tín hiệu, sự phát triển của các dự án đường sắt được kỳ vọng sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm mới cũng như hướng nghiên cứu đa dạng hơn cho sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đồng thời, sinh viên sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu về đường sắt, trong trường hợp không làm việc trực tiếp về lĩnh vực này, vẫn có thể lựa chọn các hướng đi khác như hệ thống điện dân dụng hoặc điện công nghiệp, …

Với những lợi thế trên, cách tiếp cận này cũng góp phần tạo sự linh hoạt và an toàn cho cả cơ sở đào tạo khi tuyển sinh.

Trước thực tế đó, theo thầy Hà, việc ban hành các quy định cụ thể, toàn diện về tiêu chuẩn đào tạo nhân lực ngành đường sắt sẽ là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học xây dựng chương trình và chuyên ngành đào tạo một cách bài bản, phù hợp với thực tiễn. Đối với những trường đã có đủ điều kiện và năng lực, đây là cơ hội thuận lợi để chủ động phát triển chương trình, đồng thời tạo sự yên tâm trong quá trình triển khai.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho lĩnh vực đường sắt hiện đại, Khoa Điện – Điện tử Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đang xây dựng kế hoạch mở các chương trình đào tạo như Kỹ thuật điện và tín hiệu đường sắt (thuộc ngành Công nghệ Kỹ thuật điện, điện tử), tập trung vào hướng phát triển nhân lực làm về hệ thống điện, kỹ thuật điện và xử lý tín hiệu trong vận hành đường sắt; hoặc chương trình Kỹ thuật điện và điều khiển tự động hóa. Dự kiến, các chương trình này có thể được tuyển sinh trong năm tới nếu kịp tiến độ hoàn thành đề án.

Tường San