ĐBQH và cơ sở đào tạo hiến kế để giải bài toán thiếu hụt nhân lực điều dưỡng

04/06/2026 06:29
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Để đạt được mục tiêu về số lượng điều dưỡng/vạn dân, cần có những điều chỉnh thực sự rõ ràng và mạnh hơn trong chính sách, bao gồm các chính sách liên quan đến tiền lương, phụ cấp và cả hỗ trợ học phí và sinh hoạt phí cho sinh viên theo học.

Theo chia sẻ của một số chuyên gia, đại biểu quốc hội, nước ta đang thiếu hụt lớn số lượng nhân lực điều dưỡng do nhiều nguyên nhân, từ sự khó khăn, vất vả trong quá trình học tập, đi làm đến chính sách đãi ngộ nghề nghiệp.

Vì sao nhiều cơ sở y tế Việt Nam gặp khó trong tuyển dụng và giữ chân đội ngũ điều dưỡng?

Thông tin với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Phạm Thu Xanh - Chủ tịch Hội đồng Điều hành hệ thống các bệnh viện, phòng khám thuộc Tổng Công ty Hàng Kênh, Giám đốc Bệnh viện Quốc tế Sản Nhi Hải Phòng cho hay, Việt Nam đang thực sự thiếu số lượng lớn điều dưỡng. Theo Bộ Y tế, hiện Việt Nam mới đạt khoảng 14–15 điều dưỡng trên 10.000 dân, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới; trong khi mục tiêu đến năm 2030 phải đạt khoảng 33 điều dưỡng trên 10.000 dân.

Đáng nói, thực tế hiện nay, nhiều quốc gia phát triển như Nhật Bản, Đức, Úc đang tích cực tuyển dụng điều dưỡng Việt Nam với mức thu nhập và chế độ đãi ngộ rất hấp dẫn. Điều này cho thấy năng lực của nhân lực điều dưỡng Việt Nam không hề yếu, thậm chí còn được đánh giá cao về sự chăm chỉ, khả năng thích nghi, kỹ năng chăm sóc và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, nghịch lý là trong nước, nhiều cơ sở y tế lại đang rất khó tuyển dụng và giữ chân đội ngũ điều dưỡng viên.

655880986-948466144244039-322475209134931587-n.jpg
Đại biểu Quốc hội Phạm Thu Xanh - Chủ tịch Hội đồng Điều hành hệ thống các bệnh viện, phòng khám thuộc Tổng Công ty Hàng Kênh, Giám đốc Bệnh viện Quốc tế Sản Nhi Hải Phòng. Ảnh: Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam.

“Theo tôi, nguyên nhân của thực trạng thiếu hụt số lượng điều dưỡng ở Việt Nam không chỉ nằm ở thu nhập mà là vấn đề mang tính cấu trúc của hệ thống nhân lực y tế hiện nay”, Đại biểu Phạm Thu Xanh nói.

Thứ nhất, áp lực nghề nghiệp của điều dưỡng viên hiện nay rất lớn nhưng vị thế nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ chưa tương xứng. Điều dưỡng là lực lượng trực tiếp chăm sóc người bệnh 24/24 giờ, chịu áp lực chuyên môn, trực đêm, áp lực tâm lý và nguy cơ bạo hành nghề nghiệp cao. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều nơi vẫn nhìn nhận điều dưỡng như lực lượng “hỗ trợ” thay vì là một nghề chuyên môn độc lập có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Thứ hai, chênh lệch thu nhập của người làm điều dưỡng giữa trong nước và nước ngoài hiện quá lớn. Một điều dưỡng làm việc tại Nhật Bản hoặc Đức có thể có thu nhập cao gấp nhiều lần trong nước, được làm việc trong một môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng hơn. Điều này khiến một bộ phận lớn sinh viên điều dưỡng hiện nay đã đặt ra mục tiêu học để sau khi tốt nghiệp sẽ hướng tới thị trường lao động quốc tế thay vì xác định gắn bó lâu dài với hệ thống bệnh viện trong nước.

Thứ ba, theo khuyến cáo của WHO, một bác sĩ cần khoảng 3 – 4 điều dưỡng viên hỗ trợ. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, số lượng này chưa tới 2 điều dưỡng/bác sĩ. Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều điều dưỡng phải làm việc trong tình trạng quá tải kéo dài, đặc biệt tại các khoa hồi sức, cấp cứu, ngoại khoa…

Thứ tư, mặc dù hiện nay Việt Nam có rất nhiều cơ sở đào tạo điều dưỡng nhưng chất lượng đào tạo còn chưa đồng đều. Nhiều bệnh viện phải đào tạo lại gần như từ đầu do kỹ năng thực hành, ngoại ngữ và năng lực thích ứng thực tế của sinh viên còn hạn chế. Điều này làm tăng chi phí đào tạo và giảm khả năng giữ chân nhân lực.

Ngoài ra, sau đại dịch COVID-19, tâm lý kiệt sức nghề nghiệp trong điều dưỡng vẫn còn rất rõ. Trên thực tế, không ít người đã chuyển nghề hoặc lựa chọn các công việc có áp lực thấp hơn.

Trước những vấn đề tồn tại trên, Đại biểu Quốc hội Phạm Thu Xanh cho rằng, muốn giải quyết căn cơ bài toán thiếu nhân lực điều dưỡng hiện nay, cần một chiến lược quốc gia về phát triển nhân lực điều dưỡng, trong đó tập trung vào 4 vấn đề lớn.

Một là, phải định vị lại vai trò của điều dưỡng trong hệ thống y tế hiện đại, coi đây là lực lượng trung tâm của chăm sóc người bệnh;

Hai là, cải thiện mạnh cơ chế thu nhập, phụ cấp và môi trường làm việc để điều dưỡng có thể sống được bằng nghề và yên tâm gắn bó lâu dài;

Ba là, đổi mới mô hình đào tạo theo hướng gắn chặt với thực hành bệnh viện, nâng chuẩn ngoại ngữ và phát triển điều dưỡng chuyên sâu;

Bốn là, xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng cho điều dưỡng, tương tự mô hình các nước phát triển.

Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng bỏ học giữa chừng còn khá cao

Cùng trao đổi về vấn đề này, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho – Trường Y Dược (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, tình trạng thiếu hụt nhân lực điều dưỡng hiện nay đang diễn ra ở nhiều cơ sở y tế trên cả nước, từ các bệnh viện tuyến trên đến các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh quy mô nhỏ.

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù công việc có cường độ cao, áp lực lớn trong khi thu nhập chưa thực sự tương xứng, kể cả tại khu vực y tế tư nhân. Mức đãi ngộ hiện nay vẫn chưa phản ánh đúng tính chất vất vả của nghề điều dưỡng, khiến nhiều người trẻ có xu hướng lựa chọn những công việc khác nhẹ nhàng hơn trong bối cảnh môi trường nghề nghiệp phong phú, đa dạng như hiện nay.

Theo Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho, không chỉ khó khăn trong tuyển dụng, các cơ sở y tế còn đối mặt với thách thức lớn trong việc giữ chân đội ngũ điều dưỡng. Trên thực tế, việc nâng cao thu nhập cho điều dưỡng cũng gặp nhiều rào cản do cơ chế tiền lương trong ngành y tế. Với thực trạng này, nguy cơ thiếu hụt điều dưỡng nghiêm trọng trong những năm tới là điều hoàn toàn có thể dự báo.

Thời gian qua dù chúng ta luôn khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ điều dưỡng trong hệ thống y tế. Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ dành cho ngành y vẫn chưa có nhiều thay đổi đáng kể; đồng thời, sự chênh lệch về nguồn nhân lực điều dưỡng giữa các địa phương còn khá lớn, đặc biệt các khu vực khó khăn thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu hụt.

download.jpg
Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho – Hiệu trưởng Trường Y Dược (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: Website nhà trường.

Không chỉ trong công tác tuyển dụng, về đào tạo, từ thực tiễn tại nhiều cơ sở giáo dục đại học, thầy Nho nhận thấy, ngành điều dưỡng đang đối mặt với không ít khó khăn trong tuyển sinh và giữ chân người học. Nhiều sinh viên sau khi theo học một thời gian đã quyết định chuyển ngành hoặc bỏ học do khối lượng kiến thức lớn, yêu cầu đào tạo khắt khe và áp lực nghề nghiệp cao. Tỷ lệ sinh viên thôi học sau năm thứ nhất ở ngành điều dưỡng vẫn ở mức tương đối cao. Bên cạnh đó, không ít cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng, dù thời gian học chỉ khoảng 3 năm, vẫn gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh.

Để đạt được các mục tiêu về số lượng điều dưỡng/vạn dân cũng như số lượng điều dưỡng/bác sĩ đã đặt ra, thầy Nho cho rằng, cần có những điều chỉnh thực sự rõ ràng và mạnh hơn về chính sách. Trong đó bao gồm các chính sách liên quan đến tiền lương, phụ cấp, học phí và hỗ trợ sinh hoạt phí.

Theo đó, có thể nghiên cứu áp dụng các cơ chế ưu đãi tương tự như đối với khối ngành STEM, công nghệ chiến lược hoặc khối ngành Sư phạm hiện nay. Đây là giải pháp quan trọng không chỉ góp phần thu hút người học mà còn tạo động lực để những học sinh có năng lực tốt lựa chọn theo đuổi ngành điều dưỡng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tuyển sinh linh hoạt hơn đối với lĩnh vực đào tạo nhân lực y tế.

Điều 4 Nghị định 116/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm đã quy định mức hỗ trợ đối với sinh viên theo học ngành sư phạm như sau: Sinh viên sư phạm được nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí bằng mức thu học phí của cơ sở đào tạo giáo viên nơi theo học; Sinh viên sư phạm được nhà nước hỗ trợ 3,63 triệu đồng/tháng để chi trả chi phí sinh hoạt trong thời gian học tập tại trường.

Theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng dành cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược của Chính phủ, mức học bổng được quy định theo từng nhóm ngành và trình độ đào tạo. Trong đó, đối với sinh viên đại học, mức hỗ trợ có thể lên tới 5,5 triệu đồng/tháng đối với chương trình đào tạo tài năng; 4,2 triệu đồng/tháng đối với nhóm ngành vi mạch bán dẫn và khoa học cơ bản; 3,7 triệu đồng/tháng đối với các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Chính sách học bổng, thu nhập đóng vai trò quan trọng để thu hút người học và làm nghề điều dưỡng

Trong khi đó, Tiến sĩ, Điều dưỡng Trần Thị Châu – Phó Chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Điều dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng khoa Điều dưỡng Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng, đội ngũ điều dưỡng hiện giữ vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, đồng thời yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực điều dưỡng cũng không ngừng được nâng cao nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc người bệnh.

Cô Châu thông tin, cùng với sự phát triển của hệ thống y tế, vị trí và chức năng của người làm điều dưỡng đã có nhiều thay đổi so với trước đây. Đặc biệt, điều dưỡng viên phải chủ động tham gia vào quá trình điều trị, phối hợp chặt chẽ với bác sĩ và các nhân viên y tế khác để bảo đảm chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác đào tạo, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực điều dưỡng trong thời gian tới.

a-khoa-dieu-duong-95-1024x1536.jpg
Tiến sĩ, Điều dưỡng Trần Thị Châu – Phó Chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Điều dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng khoa Điều dưỡng Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: Website Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.

Nhìn nhận từ thực tiễn đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh, cô Châu cho rằng, những cơ sở đào tạo ngành điều dưỡng có đội ngũ giảng viên chất lượng, giàu kinh nghiệm chuyên môn trong những năm gần đây cơ bản đều tuyển sinh đạt chỉ tiêu đề ra.

Theo cô Châu, các chính sách học bổng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút người học vào ngành điều dưỡng. Dù hiện nay chưa có chính sách hỗ trợ chung từ Nhà nước đối với sinh viên ngành Điều dưỡng trình độ đại học, song nhiều cơ sở đào tạo vẫn chủ động triển khai các chương trình học bổng, hỗ trợ học phí dành cho sinh viên có thành tích học tập tốt nhưng gặp khó khăn về kinh tế.

Bên cạnh đó, các trường cần thường xuyên rà soát, đánh giá và điều chỉnh chương trình đào tạo nhằm bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn của cơ sở sử dụng lao động. Hằng năm, cần đều xem xét kế hoạch học tập, tổ chức hoạt động thực hành cho sinh viên; đồng thời khảo sát tình hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp cũng như lấy ý kiến từ các đơn vị sử dụng lao động để đánh giá chất lượng đào tạo. Kết quả từ các nghiên cứu, khảo sát này là cơ sở để các nhà trường tiếp tục hoàn thiện chương trình và phương thức đào tạo.

Cũng theo cô Châu, thu nhập là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút và giữ chân đội ngũ điều dưỡng. Hiện nay, người học ngành điều dưỡng sau khi tốt nghiệp và hoàn thành chứng chỉ hành nghề có nhiều lựa chọn việc làm trong các môi trường khác nhau như bệnh viện, phòng khám, cơ sở chăm sóc sức khỏe hoặc các lĩnh vực liên quan. Mức thu nhập của điều dưỡng viên cũng có sự khác biệt tùy theo vị trí công tác, tính chất công việc và các khoản thu nhập bổ sung như trực, làm thêm giờ hoặc vượt định mức chuyên môn.

Vì vậy, bên cạnh việc cải thiện điều kiện làm việc, rất cần có những chính sách chung nhằm nâng cao thu nhập cho đội ngũ điều dưỡng, nhưng cần bảo đảm phù hợp với đặc thù của từng loại hình cơ sở y tế.

Theo cô Châu, để thu hút thêm người học, các cơ sở đào tạo cần đặc biệt quan tâm đến việc phát triển đội ngũ giảng viên cả về số lượng lẫn chất lượng. Việc tạo điều kiện để giảng viên học tập nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức chuyên môn và tham gia các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngành điều dưỡng. Bởi trên thực tế, quy mô tuyển sinh của mỗi cơ sở đào tạo cũng phụ thuộc đáng kể vào năng lực và nguồn nhân lực giảng dạy hiện có.

Tường San