Tỷ lệ viên chức giáo viên được đánh giá “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” hiện nay được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 48/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ viên chức được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá tỷ lệ đảng viên được xếp loại hoàn thành xuất sắc theo quy định của Đảng, tức không quá 20%.

7e6efe6e-a1e1-4342-ac2d-3a6b0d9f0be7.png
Ảnh minh hoạ được tạo bởi AI

Về lý thuyết, đây là giải pháp cần thiết nhằm khắc phục tình trạng “ai cũng xuất sắc”, tạo sự phân hóa trong đánh giá viên chức sau nhiều năm thi đua mang tính cào bằng.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của người viết là giáo viên, từ chủ trương đúng đến thực tế triển khai tại nhiều trường mầm non, phổ thông đang phát sinh không ít bất cập.

Khi tỷ lệ “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” bị khống chế theo chỉ tiêu, không ít trường bắt đầu xuất hiện tâm lý “chia suất” để đảm bảo hài hòa trong tập thể.

Vì vậy, việc xét danh hiệu cuối năm đôi khi không còn hoàn toàn dựa trên hiệu quả công việc hay thành tích chuyên môn mà phụ thuộc vào việc giáo viên đó đã được xếp loại xuất sắc nhiệm vụ ở những năm trước hay chưa.

Hiện tượng này xuất hiện rõ hơn ở những tổ chuyên môn ít người. Một giáo viên nếu đã được xếp loại xuất sắc năm trước thì năm sau, dù tiếp tục có thành tích nổi bật, cũng rất khó được xét tiếp.

Lý do thường được đưa ra là “nên tạo điều kiện cho người khác”, “tránh mất đoàn kết nội bộ” hoặc “cần chia đều để động viên tập thể”. Từ đó dẫn đến tình trạng xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” được phân bổ theo kiểu luân phiên qua từng năm học.

Hệ quả là nhiều giáo viên có năng lực thật sự lại không được ghi nhận tương xứng. Có người nhiều năm liên tục bồi dưỡng học sinh giỏi đạt giải, đi đầu trong đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng cuối cùng chỉ dừng ở mức “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” vì tổ chuyên môn phải cân đối tỷ lệ.

Trong khi đó, ở chiều ngược lại, cũng có trường hợp được xếp loại xuất sắc nhiệm vụ chủ yếu do “đến lượt”, dù công tác chuyên môn trong năm chưa thật sự nổi bật.

Điều này nếu kéo dài sẽ làm giảm động lực phấn đấu, khiến giáo viên giỏi dễ rơi vào tâm lý chán nản vì cảm thấy sự cố gắng của mình không được ghi nhận đúng mức.

Điều đáng nói là nghịch lý này không hoàn toàn xuất phát từ quy định khống chế tỷ lệ mà chủ yếu nằm ở cách đánh giá giáo viên hiện nay còn nặng định tính.

Phần lớn tiêu chí đánh giá vẫn xoay quanh những nội dung quen thuộc như hoàn thành hồ sơ, chấp hành quy định, tham gia phong trào, có tinh thần trách nhiệm hoặc phối hợp tốt với đồng nghiệp.

Đây đều là yêu cầu cần thiết đối với giáo viên, nhưng rất khó tạo ra sự phân hóa rõ rệt vì đa số giáo viên đều có thể đạt ở mức tương đối giống nhau. Khi ai cũng “hoàn thành tốt”, hội đồng thi đua gần như buộc phải chọn lựa bằng cảm tính hoặc thỏa thuận nội bộ.

Trong khi đó, nghề giáo thực tế có rất nhiều kết quả công việc hoàn toàn có thể lượng hóa bằng số liệu và minh chứng cụ thể. Chẳng hạn, cần phân biệt rõ thành tích trực tiếp của giáo viên với thành tích gián tiếp thông qua học sinh.

Một giáo viên đạt giải trong các hội thi chuyên môn cần được đánh giá cao hơn giáo viên có học sinh đạt giải vì đó là thành tích do chính giáo viên trực tiếp tạo ra.

Không chỉ vậy, nhiều đóng góp âm thầm của giáo viên hiện nay cũng chưa được nhìn nhận đúng mức.

Chẳng hạn, có giáo viên dành nhiều thời gian phụ đạo học sinh yếu, hỗ trợ học sinh có nguy cơ bỏ học, tham gia tư vấn tâm lý học đường hoặc xử lý các lớp có nhiều học sinh vi phạm nhưng những đóng góp này cuối năm lại rất khó được quy đổi thành kết quả thi đua cụ thể.

Do vậy, việc xây dựng hệ thống đánh giá theo hướng định lượng là giải pháp cần thiết. Các tiêu chí nên được quy đổi bằng điểm số cụ thể thay vì nhận xét chung chung.

Ví dụ, giáo viên đạt giải từ các hoạt động chuyên môn cấp tỉnh có thể được 20 điểm; đạt giải cấp xã được 12 điểm; có học sinh đạt giải cấp tỉnh được 10 điểm; có sáng kiến được áp dụng hiệu quả trong trường được 10 điểm;…

Khi thành tích được quy đổi minh bạch bằng điểm số, việc đánh giá sẽ giảm thiểu đáng kể yếu tố cảm tính. Quan trọng hơn, giáo viên cũng nhìn thấy rõ mình cần phấn đấu ở đâu thay vì chờ đợi sự đánh giá mang tính chủ quan từ tập thể.

Một bất cập khác lâu nay chưa được nhìn nhận đúng mức là sự chênh lệch về độ khó giữa các nhiệm vụ giáo viên đảm nhận.

Thực tế cho thấy giáo viên chủ nhiệm lớp có nhiều học sinh cá biệt, học lực yếu hoặc nền nếp kém thường phải đầu tư công sức lớn hơn rất nhiều so với giáo viên chủ nhiệm lớp chọn hoặc lớp có nền nếp ổn định.

Tuy nhiên, cuối năm kết quả thi đua giữa các trường hợp này nhiều khi lại gần như không khác biệt, vô hình trung tạo ra tâm lý ngại nhận việc khó trong nhà trường.

Không ít giáo viên e ngại chủ nhiệm lớp yếu, né tránh học sinh cá biệt hoặc không muốn nhận nhiệm vụ áp lực cao vì cho rằng “làm nhiều chưa chắc được đánh giá đúng”.

Muốn khắc phục bất cập này, việc đánh giá cần chú trọng đến mức độ chuyển biến và kết quả thực tế của lớp học do giáo viên phụ trách.

Một lớp học từ chỗ thường xuyên vi phạm kỷ luật nhưng cuối năm ổn định nền nếp, giảm mạnh học sinh yếu và duy trì sĩ số đầy đủ cần được ghi nhận nhiều hơn việc chỉ duy trì một tập thể vốn đã tốt ngay từ đầu năm.

Nhà trường hoàn toàn có thể lượng hóa các tiêu chí tiến bộ như giảm tỷ lệ học sinh vi phạm kỷ luật, giảm học sinh yếu, tăng tỷ lệ chuyên cần hoặc duy trì sĩ số lớp học.

Cùng với đó, cần có cơ chế cộng điểm ưu tiên cho giáo viên nhận nhiệm vụ khó như chủ nhiệm lớp có nhiều học sinh cá biệt, trực tiếp bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi hoặc kiêm nhiệm nhiều công tác.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là sự minh bạch trong quy trình đánh giá. Các tiêu chí, thang điểm, cách quy đổi và cơ chế cộng điểm cần được công khai ngay từ đầu năm học.

Khi năm học kết thúc, bảng điểm tổng hợp của từng cá nhân cũng cần được công khai trong hội đồng sư phạm để mọi người cùng giám sát, đối chiếu thay vì chỉ công bố danh sách xếp loại cuối cùng.

Chỉ khi việc đánh giá được thực hiện dựa trên minh chứng cụ thể và điểm số rõ ràng, danh hiệu “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” mới thực sự phản ánh đúng năng lực và hiệu quả công việc của giáo viên.

Nếu tiếp tục để thi đua trở thành một kiểu “chia suất” nhằm giữ sự hài hòa nội bộ, người tâm huyết sẽ khó tránh khỏi cảm giác hụt hẫng và công tác thi đua cuối cùng cũng chỉ còn mang tính hình thức.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Ánh Dương