Theo quy định hiện hành, danh sách thành viên cùng bản lý lịch khoa học của Hội đồng Giáo sư nhà nước và các Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành được công khai trên trang thông tin điện tử của Hội đồng Giáo sư nhà nước.
Đáng chú ý, các nội dung công khai trong lý lịch khoa học của thành viên hội đồng giáo sư thường xoay quanh số lượng sách chuyên khảo, giáo trình, bài báo khoa học, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công trình nghiên cứu, kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh hay năng lực ngoại ngữ. Trong khi đó, chỉ số định danh ORCID, hồ sơ Google Scholar, H-index, số lượt trích dẫn,... lại không bắt buộc đưa vào lý lịch khoa học của thành viên hội đồng giáo sư. Việc không đề cập đến những thông tin này có thể khó làm rõ được chất lượng học thuật, uy tín khoa học và mức độ đóng góp thực sự của từng thành viên.
Hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng Thông tư mới thay thế Quyết định 37/2018/QĐ-TTg - văn bản hiện hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, cũng như thủ tục hủy bỏ công nhận và miễn nhiệm.
Thông tư mới được xây dựng nhằm phù hợp với quy định của Luật Giáo dục đại học 2025 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026).
Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu vẫn xây dựng quy trình xét công nhận đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư ở 3 hội đồng giáo sư các cấp thì Thông tư cần đưa ra khung tiêu chuẩn thành viên các hội đồng một cách rõ ràng, có khả năng đo lường và đối sánh. Trong đó, cần quy định cụ thể những chỉ số học thuật bắt buộc phải công khai.
Cần thiết phải công khai các chỉ số
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hoằng Bá Huyền - Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức cho biết, hiện nay việc công khai, minh bạch hóa các quy trình liên quan đến mọi lĩnh vực ngày càng được đẩy mạnh, thể hiện tinh thần cầu thị và khát vọng đổi mới. Và việc công khai lý lịch khoa học của các thành viên hội đồng giáo sư luôn được xem là điều rất cần thiết.
Theo thầy Huyền, trên thực tế, lý lịch khoa học của các thành viên hội đồng giáo sư được công khai theo quy định tại Thông tư số 04/2019/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo sư nhà nước, các Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành và Hội đồng Giáo sư cơ sở. Do đó, việc công khai lý lịch khoa học của các thành viên hội đồng giáo sư, thậm chí là của các bên liên quan (ví dụ như Văn phòng Hội đồng Giáo sư nhà nước,...) cần được tiếp tục đẩy mạnh theo xu hướng ngày càng mở rộng đối tượng, thành viên cần thực hiện công khai lý lịch khoa học.
Còn đối với khung tiêu chuẩn lựa chọn thành viên hội đồng giáo sư, thầy Huyền cho rằng đây là một một vấn đề quan trọng, cần được nghiên cứu và thảo luận kỹ để đề xuất tiêu chuẩn sao cho phù hợp nhất.
“Có thể dựa trên một số tiêu chuẩn cụ thể để lựa chọn thành viên hội đồng giáo sư. Ví dụ như: Tiêu chuẩn về công bố quốc tế thuộc danh mục Web of Science/Scopus, bằng sở hữu trí tuệ hoặc sách chuyên khảo quốc tế có phản biện, các chỉ số ảnh hưởng khoa học (ví dụ như H-index (WoS, Scopus)),... Đồng thời, có thể có quy định riêng cho các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó, các thành viên tham gia các hội đồng nhất định phải có uy tín về liêm chính học thuật.
Ngoài ra, có thể căn cứ tiêu chuẩn về sự đa dạng và đại diện trong phân bổ thành viên theo ngành/lĩnh vực; phân bổ theo vùng/miền; theo năm thâm niên, kinh nghiệm trong và ngoài nước.
Sau mỗi nhiệm kỳ, cũng nên có đánh giá lại dựa trên hồ sơ mới nhất để có thể bổ sung, thay thế bằng cách cho nhà khoa học đang thực sự dẫn dắt theo từng lĩnh vực chuyên môn, nhất là khi có những trường hợp bài báo khoa học quốc tế uy tín của thành viên hội đồng giáo sư bị gỡ (bởi nhiều lý do khác nhau)”, thầy Huyền chia sẻ.
Cùng chia sẻ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Đăng – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng, việc công khai lý lịch khoa học của thành viên hội đồng giáo sư là cần thiết, nhằm tạo điều kiện để xã hội và giới học thuật có thể theo dõi, đối chiếu. Tuy nhiên, nội dung yêu cầu công khai trong lý lịch khoa học cần đi vào thực chất.
Chúng ta có thể cân nhắc đến việc chuyển từ yêu cầu “nếu có” sang yêu cầu “bắt buộc” thành viên hội đồng giáo sư công khai các chỉ số phản ánh mức độ ảnh hưởng khoa học, như ORCID, hồ sơ Google Scholar, H-index, số lượt trích dẫn… để cung cấp thêm căn cứ tham chiếu.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, các chỉ số này chỉ nên được sử dụng như công cụ tham khảo, chứ không nên là thước đo duy nhất. Chẳng hạn, H-index có xu hướng tăng theo thâm niên nghiên cứu hoặc có thể bị “kéo lên” bởi tác giả có các bài viết tổng quan. Trong khi đó, những công trình nghiên cứu tạo giá trị mới lại chưa chắc phản ánh tương xứng qua chỉ số H-index. Chính vì thế, cần dựa vào đa dạng các chỉ số ảnh hưởng khi tham chiếu.
“Cần kết hợp giữa công khai đầy đủ thông tin chỉ số ảnh hưởng khoa học trong lý lịch thành viên hội đồng và xây dựng bộ tiêu chuẩn lựa chọn hợp lý. Việc này giúp bảo đảm lựa chọn được những nhà khoa học có năng lực thực chất tham gia hội đồng giáo sư”, thầy Đăng chia sẻ.
Hiện nay, hệ thống có 28 Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành, trong khi xu hướng đào tạo và nghiên cứu đang dần chuyển sang liên ngành. Trước ý kiến cho rằng, mô hình Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành bộc lộ dấu hiệu phân mảnh, chồng chéo, thậm chí có thể trở thành một tầng nấc thủ tục hành chính, các chuyên gia cũng có một số chia sẻ khách quan.
Cụ thể, theo thầy Huyền, trong bối cảnh hiện nay, nhiều hướng nghiên cứu có tính chất đan xen, liên ngành, khiến cho việc phân định ranh giới giữa các ngành ngày càng khó. Trong khi đó, khoa học hiện đại thay đổi nhanh hơn tốc độ cập nhật danh mục ngành, dẫn đến tình trạng nhiều công trình không rõ thuộc hội đồng nào, nhưng vẫn được đánh giá theo “gốc ngành”.
Tăng cường minh bạch, chuẩn hóa và hậu kiểm
Trước đề xuất trao quyền nhiều hơn cho các cơ sở giáo dục đại học trong xét duyệt chức danh giáo sư, phó giáo sư, các chuyên gia cho rằng việc phân cấp cần đi kèm với cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Đăng, nếu tăng quyền cho cơ sở, yêu cầu minh bạch đối với thành viên hội đồng giáo sư phải được đặt ra ở mức cao hơn. Thành viên hội đồng cần đáp ứng tiêu chuẩn vượt trội so với ứng viên, thậm chí cao hơn từ 2–3 lần, nhằm bảo đảm đủ năng lực thẩm định. Các tiêu chí về công bố khoa học, đặc biệt là các bài báo nghiên cứu quốc tế và chỉ số ảnh hưởng khoa học, cần được xem là yếu tố để đánh giá năng lực thực chất.
Mặt khác, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hoằng Bá Huyền nhận định, việc trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học là phù hợp với xu hướng tự chủ đại học. Tuy nhiên, quá trình này cần đi kèm các điều kiện cụ thể, trong đó phải có một bộ tiêu chuẩn quốc gia làm nền tảng. Các cơ sở đào tạo có thể xây dựng tiêu chuẩn riêng, nhưng bắt buộc phải đáp ứng khung tiêu chuẩn tối thiểu.
Đồng thời, hội đồng xét duyệt của cơ sở cần bảo đảm có một tỷ lệ nhất định các nhà khoa học độc lập ngoài đơn vị, và những chuyên gia này phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc gia. Cùng với đó, cần duy trì công tác thanh tra, kiểm tra hằng năm đối với kết quả xét duyệt của hội đồng giáo sư tại các cơ sở. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chuẩn, không trực tiếp phê duyệt từng hồ sơ, nhưng có quyền phủ quyết nếu phát hiện vi phạm quy trình hoặc tiêu chuẩn đã công bố.
Cũng theo Phó Giáo sư Huyền, việc trao quyền cho cơ sở thực chất là chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, với yêu cầu chặt chẽ về khung chuẩn và tăng cường giám sát từ cộng đồng. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời bảo đảm sự thống nhất về chất lượng học thuật trên phạm vi toàn quốc.
Để tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin xã hội đối với các đợt xét duyệt chức danh giáo sư, phó giáo sư, thầy Huyền nhấn mạnh nguyên tắc quan trọng là mọi tiêu chí phải được thiết kế sao cho có thể kiểm chứng và truy vết.
Cụ thể, đối với số giờ giảng, cần chuẩn hóa và xác thực bằng hệ thống số hóa. Đồng thời, thống nhất cách tính giờ chuẩn trên toàn quốc, phân biệt rõ giữa giảng dạy đại học, sau đại học, hướng dẫn luận văn, luận án và các bài giảng chuyên đề để tránh tình trạng quy đổi một cách thiếu chặt chẽ.
Về ngoại ngữ, yêu cầu cần chuyển từ việc “có chứng chỉ” sang đánh giá năng lực sử dụng trong môi trường học thuật quốc tế.
Về công bố khoa học, cần làm rõ tiêu chí xác định tạp chí uy tín, quy định cụ thể cách tính điểm đối với các bài đồng tác giả, cũng như vai trò của tác giả chính và tác giả liên hệ. Đồng thời, cần chú trọng đánh giá chất lượng công bố gắn với yêu cầu về liêm chính học thuật.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế rà soát tự động dựa trên cơ sở dữ liệu cập nhật, kết hợp hậu kiểm ngẫu nhiên. Ngoài ra, cần thiết phải công khai danh mục bài báo khoa học của ứng viên và thành viên ở hội đồng giáo sư các cấp. Qua đó, giúp tăng cường minh bạch và hạn chế các biểu hiện hình thức trong đánh giá, xét duyệt.