Theo Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên viên chính Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), tuyển sinh đại học năm 2026 chịu tác động từ Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và các luật trong lĩnh vực giáo dục, kéo theo nhiều điều chỉnh trong thi và tuyển sinh.
Một trong số nội dung thí sinh cần lưu ý trong tuyển sinh đại học 2026 là số lượng nguyện vọng có thể bị khống chế, dự kiến tối đa 10 nguyện vọng thay vì không giới hạn như các năm trước. [1]
Lãnh đạo, quản lý nhiều trường đại học cho rằng, đề xuất này nhằm khắc phục tình trạng thí sinh đăng ký tràn lan hàng chục nguyện vọng để “giữ chỗ”, đồng thời khiến chính thí sinh rơi vào tâm lý hoang mang khi lựa chọn ngành, trường.
Siết số lượng đăng ký nguyện vọng góp phần giảm tỷ lệ trúng tuyển "ảo"
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho biết, việc giới hạn mỗi thí sinh được đăng ký tối đa 10 nguyện vọng sẽ góp phần tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các trường.
Thứ nhất, giảm tỷ lệ ảo trong khâu lọc ảo nguyện vọng. Khi số lượng nguyện vọng đăng ký của mỗi thí sinh được khống chế ở mức hợp lý, thí sinh buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ đăng ký những ngành, trường thực sự phù hợp với năng lực và nguyện vọng cá nhân. Điều này hạn chế tình trạng một thí sinh đăng ký quá nhiều nguyện vọng ở nhiều cơ sở đào tạo khác nhau, qua đó làm giảm tỷ lệ trúng tuyển ảo và giúp nhà trường có cơ sở dự báo chính xác hơn số lượng thí sinh nhập học thực tế.
Thứ hai, thuận lợi trong việc xác định điểm chuẩn. Việc giới hạn số lượng nguyện vọng giúp phản ánh rõ hơn mức độ ưu tiên thực sự của thí sinh đối với từng ngành, từng trường. Trên cơ sở đó, điểm chuẩn được xác định sát với nhu cầu người học và năng lực thực tế, hạn chế biến động bất thường, tránh tình trạng xác định điểm chuẩn quá cao dẫn đến thiếu chỉ tiêu hoặc quá thấp gây vượt chỉ tiêu.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả phân bổ chỉ tiêu trúng tuyển. Khi số lượng nguyện vọng được kiểm soát, hiện tượng một thí sinh trúng tuyển đồng thời ở nhiều ngành, nhiều trường nhưng chỉ nhập học tại một cơ sở sẽ giảm đáng kể, hạn chế việc phải tuyển sinh bổ sung hoặc điều chỉnh chỉ tiêu nhiều lần.
Thứ tư, giảm áp lực xử lý dữ liệu và rút ngắn thời gian tuyển sinh. Số lượng nguyện vọng trong toàn hệ thống giảm giúp dữ liệu tuyển sinh gọn nhẹ hơn, quy trình lọc ảo đơn giản và hiệu quả hơn, từ đó tiết kiệm thời gian, nhân lực và hạn chế sai sót kỹ thuật trong quá trình xử lý.
Thứ năm, góp phần giảm chi phí cho thí sinh và gia đình. Khi số lượng nguyện vọng đăng ký được giới hạn, thí sinh sẽ hạn chế đăng ký tràn lan, qua đó giảm chi phí liên quan đến việc đăng ký xét tuyển, điều chỉnh nguyện vọng, cũng như các chi phí gián tiếp khác như tìm hiểu thông tin, chuẩn bị hồ sơ cho quá nhiều lựa chọn.
Thứ sáu, góp phần nâng cao chất lượng nguồn tuyển. Việc đăng ký nguyện vọng có định hướng rõ ràng giúp nhà trường tuyển được thí sinh phù hợp hơn với ngành đào tạo, có khả năng nhập học và theo học thực tế cao, từ đó nâng cao hiệu quả đào tạo và quản lý người học sau tuyển sinh.
“Tóm lại, việc giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký của thí sinh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả, tính ổn định và minh bạch của công tác tuyển sinh, mà còn bảo đảm quyền lợi của thí sinh thông qua việc giảm chi phí và áp lực tham gia tuyển sinh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở đào tạo trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyển sinh sát với thực tiễn”, thầy Cang bày tỏ.
Cùng bàn vấn đề này, Thạc sĩ Dương Văn Bá - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Intracom cho biết, việc giới hạn mỗi thí sinh chỉ được đăng ký tối đa 10 nguyện vọng trên hệ thống tuyển sinh chung là cần thiết, nhất là khi công tác tuyển sinh ngày càng chịu áp lực lớn về dữ liệu và kỹ thuật. Thực tế những năm gần đây cho thấy thí sinh đăng ký quá nhiều nguyện vọng để “giữ chỗ”, dàn trải và phòng rủi ro, khiến hệ thống phải xử lý lượng thông tin khổng lồ, làm tăng nguy cơ sai sót trong khâu lọc ảo và xác định kết quả trúng tuyển.
Theo thầy Bá, khi số lượng nguyện vọng được thu gọn, dữ liệu tuyển sinh sẽ phản ánh sát hơn nhu cầu thực tế của thí sinh. Điều này giúp các trường đại học thuận lợi hơn trong việc dự báo điểm chuẩn, xây dựng phương án tuyển sinh và hạn chế tình trạng thí sinh trúng tuyển nhưng không nhập học. Bởi trong những năm trước, không ít trường rơi vào tình trạng “đỗ ảo”, buộc phải tuyển bổ sung hoặc điều chỉnh kế hoạch đào tạo, gây xáo trộn cho cả nhà trường và người học. Việc siết số lượng nguyện vọng được kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng này.
“Do đó, nếu giới hạn đăng ký tối đa 10 nguyện vọng, thí sinh phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn trong việc lựa chọn ngành, trường. Khi đó, các em chủ động tìm hiểu sâu hơn về năng lực bản thân, mức điểm dự kiến, cũng như yêu cầu đầu vào và cơ hội nghề nghiệp của từng ngành học. Điều này giúp nâng cao mức độ phù hợp giữa người học và ngành đào tạo, đồng thời góp phần cải thiện chất lượng đầu vào của các cơ sở giáo dục đại học.
Còn đối với công tác tư vấn tuyển sinh, hiện nay, các trường vẫn duy trì nguyên tắc hướng dẫn thí sinh lựa chọn ngành, trường phù hợp với năng lực và điều kiện cá nhân. Trong đó, thí sinh được lưu ý sắp xếp nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên từ những phương án có khả năng trúng tuyển cao nhất đến các phương án dự phòng. Cách tiếp cận này giúp các em vừa tối đa hóa cơ hội vào ngành, trường mong muốn, vừa giảm thiểu rủi ro trượt toàn bộ.
Nhìn chung, nếu đi kèm với công tác tư vấn tốt và thông tin minh bạch, việc siết số lượng đăng ký nguyện vọng không chỉ giúp hệ thống tuyển sinh vận hành hiệu quả hơn mà còn mang lại lợi ích lâu dài cho thí sinh, nhà trường và chất lượng đào tạo đại học”, thầy Bá nêu quan điểm.
Thí sinh nên sắp xếp nguyện vọng theo thành 3 nhóm để gia tăng cơ hội trúng tuyển
Theo Tiến sĩ Lê Xuân Vinh - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo đại học Trường Đại học Quy Nhơn, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất siết chặt số lượng nguyện vọng đăng ký trên hệ thống tuyển sinh chung, theo hướng mỗi thí sinh chỉ được đăng ký tối đa 10 nguyện vọng là một quyết định hợp lý và cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Trên thực tế, công tác lọc ảo vẫn còn những hạn chế, đặc biệt khi số lượng thí sinh đông và phương thức xét tuyển ngày càng đa dạng. Do đó, việc giới hạn số lượng nguyện vọng sẽ giúp giảm tải đáng kể cho hệ thống, từ đó quá trình xử lý dữ liệu trở nên ổn định, chính xác và an toàn hơn. Đồng thời, dữ liệu tuyển sinh cũng phản ánh sát hơn nhu cầu thực sự của thí sinh, thay vì bị “nhiễu” bởi quá nhiều lựa chọn mang tính “thử vận may”.
“Theo tôi, một tác động quan trọng của đề xuất này là buộc thí sinh phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn khi đăng ký nguyện vọng. Khi số lượng nguyện vọng bị giới hạn, các em không thể đăng ký dàn trải mà phải lựa chọn dựa trên năng lực học tập, kết quả thi và mục tiêu nghề nghiệp của bản thân. Điều này giúp thí sinh có trách nhiệm hơn với quyết định của mình và đồng thời tăng khả năng trúng tuyển vào những ngành, trường thực sự phù hợp.
Thực tế cho thấy, thí sinh hiện nay có khả năng tiếp cận thông tin rất tốt. Ngay từ đầu năm lớp 12, nhiều em đã chủ động tìm hiểu điểm chuẩn các năm trước, chỉ tiêu, phương thức xét tuyển và triển vọng từng ngành, từng trường. Với nền tảng dữ liệu đầy đủ và sự tư vấn của nhà trường, việc xây dựng một chiến lược đăng ký trong phạm vi 10 nguyện vọng là hoàn toàn khả thi.
Như vậy, nếu được triển khai đồng bộ, quy định giới hạn số lượng nguyện vọng không chỉ giúp hệ thống tuyển sinh vận hành hiệu quả, an toàn hơn, mà còn góp phần nâng cao chất lượng lựa chọn của thí sinh, hướng tới sự phù hợp tốt hơn giữa người học và ngành đào tạo”, thầy Vinh nêu quan điểm.
Đồng quan điểm trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang bày tỏ, việc thí sinh buộc phải chọn lọc nguyện vọng kỹ hơn sẽ giúp nâng cao mức độ phù hợp giữa năng lực học tập của thí sinh và yêu cầu của ngành đào tạo. Khi số lượng nguyện vọng bị giới hạn, thí sinh có xu hướng lựa chọn những ngành học phù hợp với tổ hợp môn mạnh, kết quả học tập và khả năng theo học lâu dài. Điều này giúp nhà trường tuyển chọn những thí sinh có nền tảng kiến thức phù hợp với đặc thù ngành, từ đó nâng cao chất lượng đầu vào.
Theo thầy Cang, khi sinh viên đầu vào phù hợp hơn với ngành, nhà trường cũng thuận lợi hơn trong tổ chức giảng dạy, xây dựng chương trình, hỗ trợ học tập, đồng thời cải thiện chất lượng học tập, tỷ lệ hoàn thành đúng tiến độ và hiệu quả đầu ra.
Do đó, các trường nên tư vấn thí sinh đánh giá đúng năng lực học tập và thế mạnh cá nhân, dựa trên kết quả học tập, điểm thi, tổ hợp môn xét tuyển có lợi thế, điều kiện sơ tuyển của từng ngành để xác định nhóm ngành phù hợp. Trên cơ sở này, nhà trường hướng dẫn thí sinh sắp xếp nguyện vọng theo nguyên tắc: nguyện vọng cao (mục tiêu), nguyện vọng phù hợp (khả thi) và nguyện vọng an toàn. Cách sắp xếp này giúp thí sinh vừa theo đuổi ngành học mong muốn, vừa bảo đảm cơ hội trúng tuyển thực tế.
Ngoài ra, việc công bố rõ ràng chỉ tiêu, phương thức tuyển sinh, tổ hợp xét tuyển, điều kiện sơ tuyển, điểm chuẩn các năm trước và định hướng nhu cầu nhân lực từng ngành là cơ sở quan trọng để thí sinh lựa chọn và đặt nguyện vọng một cách khoa học, hạn chế rủi ro. Để hỗ trợ quá trình xây dựng và điều chỉnh nguyện vọng, nhà trường nên tăng cường công nghệ số thông qua tư vấn trực tiếp, trực tuyến, đường dây nóng và các nền tảng số, giúp giải đáp kịp thời các vướng mắc.
“Bên cạnh việc xét năng lực hiện tại, nhà trường cần tư vấn thí sinh cân nhắc sở thích, điều kiện gia đình, triển vọng việc làm và khả năng gắn bó với ngành, nhằm bảo đảm hiệu quả đào tạo và hạn chế tình trạng chuyển ngành hoặc bỏ học sau khi trúng tuyển.
Tóm lại, trong điều kiện giới hạn số lượng nguyện vọng, nhà trường tập trung tư vấn khoa học, chủ động và số hóa, giúp thí sinh xây dựng chiến lược nguyện vọng hợp lý, phù hợp năng lực và định hướng nghề nghiệp, đồng thời tối ưu hóa cơ hội trúng tuyển và nhập học thực tế”, thầy Cang bày tỏ.
Tài liệu tham khảo:
[1]: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nhung-thay-doi-quan-trong-trong-tuyen-sinh-dai-hoc-2026-11926011614494274.htm
