Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo chuẩn chương trình đào tạo tiến sĩ lĩnh vực vi mạch bán dẫn để lấy ý kiến.
Theo dự thảo, nghiên cứu sinh ở lĩnh vực này phải dành toàn bộ thời gian học tập, nghiên cứu ở trường, tham gia các đề tài khoa học. Bù lại, họ được miễn học phí, hỗ trợ học bổng, sinh hoạt phí và kinh phí nghiên cứu. Nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn từ các chuyên gia và các cơ sở giáo dục đại học đào tạo về lĩnh vực vi mạch bán dẫn.
Cần coi “nghiên cứu sinh” là một nghề chuyên nghiệp
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú - Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) khẳng định, chính sách hỗ trợ về tài chính cho nghiên cứu sinh ngành bán dẫn sẽ tạo động lực rất lớn cho công tác tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực này.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú, chính sách này không chỉ giúp nghiên cứu sinh yên tâm, tập trung vào nghiên cứu, mà còn tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học tăng cường đầu tư, tổ chức đào tạo và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học một cách bài bản, hiệu quả hơn.
Qua đó, chất lượng đào tạo tiến sĩ được nâng lên, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp bán dẫn của đất nước.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú phát biểu tại Hội nghị khoa học quốc tế IEEE lần thứ 24 về Công nghệ thông tin và truyền thông năm 2025. Ảnh: NVCC
Để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú, cần quy định rõ mức hỗ trợ sinh hoạt phí hằng tháng cho nghiên cứu sinh, có thể linh hoạt điều chỉnh theo từng địa phương nhưng phải bảo đảm đủ trang trải các chi phí sinh hoạt cơ bản, giúp nghiên cứu sinh yên tâm gắn bó lâu dài với hoạt động nghiên cứu.
Ngoài ra, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng nhấn mạnh quan điểm cần phải coi nghiên cứu sinh là “người đi làm” trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
“Trước hết, cần nhìn nhận đúng tinh thần của Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ ban hành theo Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo quy định này, đào tạo tiến sĩ được thực hiện theo hình thức chính quy, nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt, trong đó việc đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là học tập, nghiên cứu tập trung toàn thời gian.
Bản chất của đào tạo tiến sĩ là đào tạo ra các nhà nghiên cứu, nhà khoa học có năng lực độc lập, sáng tạo, có khả năng tạo ra tri thức mới và giải quyết những vấn đề mới thông qua việc thực hiện luận án.
Vì vậy, cần thay đổi quan niệm lâu nay rằng nghiên cứu sinh là “người đi học”, mà phải coi họ là “người đi làm” trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Khi đã xác định như vậy, việc chi trả lương hoặc học bổng cho nghiên cứu sinh trở thành yêu cầu tất yếu và về lâu dài sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ.
Từ cách tiếp cận này, việc quy định cứng yêu cầu nghiên cứu sinh ngành vi mạch bán dẫn phải dành toàn bộ thời gian cho học tập và nghiên cứu là không thực sự cần thiết, thậm chí có thể vô tình cản trở các mô hình hợp tác đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp.
Vấn đề cốt lõi không nằm ở yêu cầu “toàn thời gian”, mà ở việc xây dựng các cơ chế huy động nguồn lực nhằm bảo đảm nghiên cứu sinh được chi trả hằng tháng, tương xứng với vai trò của một người làm nghiên cứu, để họ có thể toàn tâm, toàn ý cho công việc khoa học”, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú bày tỏ.
Cũng theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú, hiện nay, Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội đang triển khai cơ chế chi trả cho nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu toàn thời gian, với mức hỗ trợ từ 10-15 triệu đồng mỗi tháng. Theo mô hình này, nghiên cứu sinh không phải đảm nhiệm công tác giảng dạy mà được tạo điều kiện tập trung hoàn toàn cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
Trong khi đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh - Phó Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội), việc yêu cầu nghiên cứu sinh làm việc toàn thời gian, dành toàn bộ thời gian cho học tập và nghiên cứu là thông lệ chung của quốc tế, áp dụng rộng rãi cho hầu hết các ngành, lĩnh vực, chứ không chỉ riêng đối với ngành vi mạch bán dẫn.
Cốt lõi của quy định này là cần nhìn nhận hoạt động nghiên cứu khoa học như một nghề nghiệp chuyên nghiệp, đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc về thời gian, trí tuệ và tâm huyết. Chỉ khi được làm việc tập trung, toàn thời gian, nghiên cứu sinh mới có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo, triển khai nghiên cứu một cách bài bản và tạo ra các kết quả khoa học có chất lượng.
Trong bối cảnh đó, nếu đi kèm với các điều kiện bảo đảm cần thiết về nhân lực hướng dẫn, cơ sở vật chất, môi trường nghiên cứu và chính sách hỗ trợ phù hợp, quy định này là khả thi và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh - Trưởng phòng, phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long cho rằng quy định yêu cầu nghiên cứu sinh ngành bán dẫn dành toàn bộ thời gian cho học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo và tham gia các đề tài khoa học là hoàn toàn khả thi, đồng thời mở ra cơ hội thuận lợi để nghiên cứu sinh đầu tư chiều sâu, tập trung toàn tâm, toàn ý cho lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn.
Đây được xem là điều kiện quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh, thể hiện định hướng đúng đắn trong chính sách phát triển nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành vi mạch, bán dẫn.
Đặc biệt, trong bối cảnh nghiên cứu sinh được hưởng các chính sách ưu đãi như miễn học phí, hỗ trợ học bổng, sinh hoạt phí và kinh phí nghiên cứu, quy định này không chỉ tạo nền tảng vật chất mà còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp nghiên cứu sinh yên tâm theo đuổi con đường nghiên cứu, đáp ứng chuẩn đầu ra theo quy định và hoàn thành chương trình đào tạo đúng tiến độ.
Nên linh hoạt yêu cầu về số lượng công bố quốc tế
Cũng theo dự thảo, cơ sở đào tạo chỉ được tuyển nghiên cứu sinh khi có đề tài khoa học phù hợp với lĩnh vực vi mạch bán dẫn và nguồn tài chính đảm bảo. Bàn luận về vấn để này, Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh cho rằng đây là một yêu cầu khó đáp ứng trong bối cảnh hiện nay, bởi đây vẫn là lĩnh vực mới và chỉ có rất ít cơ sở đào tạo trong nước đủ điều kiện đạt được tiêu chuẩn này.
Do đó, nếu áp dụng cứng nhắc, quy định có thể khiến công tác tuyển sinh và đào tạo nghiên cứu sinh chưa đáp ứng được kỳ vọng phát triển nguồn nhân lực cho ngành bán dẫn.
“Từ thực tiễn đó, theo tôi, chúng ta có thể cân nhắc hai hướng tiếp cận. Thứ nhất, tuyển chọn nghiên cứu sinh và cử đi đào tạo tại các quốc gia có trường đại học đào tạo tiến sĩ chuyên sâu về lĩnh vực bán dẫn, qua đó giúp tiếp cận công nghệ hiện đại, đi tắt đón đầu trong đào tạo; sau khi hoàn thành chương trình và trở về nước, lực lượng tiến sĩ này sẽ có điều kiện khai thác và phát huy tiềm năng của lĩnh vực bán dẫn tại Việt Nam nhanh và hiệu quả hơn.
Thứ hai, nếu tổ chức đào tạo trong nước, cần mời các giáo sư, chuyên gia nước ngoài có chuyên môn sâu sang trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu sinh, dù phương án này đòi hỏi chi phí lớn hơn do phải đầu tư đồng bộ về trang thiết bị, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ tương xứng”, Trưởng phòng, phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long cho hay.
Về công bố khoa học, dự thảo đề xuất yêu cầu nghiên cứu sinh có ít nhất hai bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí uy tín thuộc danh mục Q1 hoặc Q2. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Tú, yêu cầu nghiên cứu sinh có các bài báo quốc tế uy tín là cần thiết nhằm nâng cao chuẩn mực và chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, đề xuất buộc nghiên cứu sinh phải có ít nhất hai bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế thuộc nhóm Q1 hoặc Q2 cũng đặt ra không ít thách thức cho các cơ sở đào tạo.
“Thực tế cho thấy, nhiều đề tài nghiên cứu gắn chặt với nhu cầu của doanh nghiệp thường thiên về tạo ra sáng chế hơn là công bố trên các tạp chí khoa học, hoặc phục vụ mục tiêu phát triển ngành trong nước chưa hẳn phù hợp với tiêu chí công bố của các tạp chí Q1, Q2 (Scimago), trong khi quá trình nghiên cứu và công bố quốc tế thường kéo dài.
Hơn nữa, đặc thù của từng khâu trong chuỗi giá trị ngành bán dẫn cũng khác nhau: tiến sĩ tốt nghiệp lĩnh vực bán dẫn ở khâu thiết kế và đo kiểm thường có số lượng bài báo trên tạp chí Q1, Q2 không nhiều, mà chủ yếu công bố kết quả tại các hội nghị khoa học quốc tế uy tín như ISSCC, VLSI Symposium, DAC, IEDM; trong khi kết quả các nghiên cứu lĩnh vực vật liệu bán dẫn thì chủ yếu công bố trên tạp chí.
Việc áp đặt yêu cầu cứng nhắc về số lượng bài báo có thể làm lệch mục tiêu của luận án, khiến nghiên cứu sinh chạy theo thành tích công bố thay vì tập trung giải quyết bài toán nghiên cứu cốt lõi. Do đó, nếu không được thiết kế linh hoạt, quy định này có nguy cơ làm giảm tính đa dạng trong lựa chọn đề tài và ảnh hưởng đến mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành bán dẫn.
Theo tôi, để vừa bảo đảm chất lượng đào tạo, vừa phù hợp với đặc thù lĩnh vực, ngoài các yêu cầu chung của Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ, có thể cân nhắc bổ sung tiêu chí chất lượng theo hướng yêu cầu tối thiểu một công trình khoa học đăng trên tạp chí quốc tế uy tín (Q1/Q2) hoặc đăng ký thành công một sáng chế; các tiêu chí bổ sung này có thể được gắn với cơ chế cấp và quản lý tài trợ nghiên cứu”, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất.
Để triển khai hiệu quả mô hình đào tạo tiến sĩ toàn thời gian, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh, các cơ sở giáo dục đại học trước hết cần xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, cập nhật sát với thực tiễn phát triển của ngành, đồng thời đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ thiết bị và phần mềm hiện đại, tương đương với công nghệ đang được sử dụng trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bán dẫn.
Đồng thời, đội ngũ giảng viên, đặc biệt là người hướng dẫn nghiên cứu sinh, phải có chuyên môn sâu, am hiểu thực tiễn ngành và đủ năng lực định hướng, dẫn dắt nghiên cứu sinh triển khai đề tài đúng hướng, hiệu quả.
Một điều kiện then chốt khác là nhà trường cần thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, bền vững với các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn, qua đó tạo điều kiện để nghiên cứu sinh dễ dàng tiếp cận môi trường thực tế, đồng thời có không gian và đối tác để kiểm nghiệm, ứng dụng các kết quả nghiên cứu.