Việc sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp (tại Phụ lục II, Nghị quyết 105/NQ-CP ngày 08/4/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới) đang nhận được sự quan tâm của nhiều lãnh đạo trường trung cấp, cao đẳng trên cả nước.
Theo đánh giá, đây là bước đi tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tránh đầu tư lãng phí; qua đó bảo đảm cung ứng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.
Nghị quyết 105/NQ-CP nêu rõ, mỗi tỉnh/thành phố có tối đa không quá 03 trường dạy nghề để đào tạo lao động lành nghề phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư ở địa phương (không tính các trường tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên), trong đó:
Đối với các trường trung cấp nghề, duy trì các trường dạy nghề tự bảo chi thường xuyên trở lên, các trường còn lại thực hiện sắp xếp, hợp nhất, sáp nhập với trường cao đẳng;
Đối với trường cao đẳng, mỗi tỉnh/thành phố có tối đa không quá 03 trường có khả năng đào tạo liên thông, thực hành (không tính các trường tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên), các trường còn lại thực hiện sắp xếp, hợp nhất, sáp nhập với cơ sở giáo dục đại học.
Khắc phục tình trạng đào tạo trùng lặp, gây lãng phí nguồn lực đầu tư
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Đặng Văn Sáng - Hiệu trưởng Trường Trung cấp Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 105/NQ-CP là bước đi mang tính tất yếu và chiến lược nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo trong mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp vốn còn phân tán, nhiều trường quy mô nhỏ, ngành nghề đào tạo trùng lặp, gây lãng phí nguồn lực đầu tư.
Theo thầy Sáng, chủ trương sắp xếp này đồng thời góp phần chuẩn hóa chất lượng đào tạo, giúp địa phương tập trung các nguồn lực như tài chính, đội ngũ giảng viên và trang thiết bị vào những đơn vị đầu mối, qua đó hình thành các cơ sở đào tạo có năng lực cạnh tranh cao, đáp ứng chuẩn quốc tế cũng như nhu cầu thực tế của thị trường lao động; cơ sở vật chất hiện đại được ưu tiên đầu tư cho các “trung tâm đào tạo” nòng cốt. Việc sáp nhập cũng tạo ra các cơ sở có quy mô lớn hơn, uy tín hơn, từ đó tăng sức hút đối với người học trên địa bàn.
Bên cạnh đó, quá trình này còn thúc đẩy lộ trình tự chủ, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, buộc các đơn vị phải chủ động đổi mới chương trình đào tạo và tăng cường liên kết với doanh nghiệp; đồng thời góp phần tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối quản lý, cắt giảm biên chế gián tiếp và tiết kiệm chi thường xuyên.
Đồng tình với quan điểm trên, Bác sĩ chuyên khoa II Tô Kỳ Nam – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Đặng Thùy Trâm cho hay, chủ trương sắp xếp, tinh gọn hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp là phù hợp với thực tiễn. Bởi, quá trình hoạt động thời gian qua cho thấy hiệu quả đào tạo giáo dục nghề nghiệp ở một số nơi chưa cao, còn tình trạng phân tán, trên cùng một địa phương nhưng có nhiều cơ sở cùng đào tạo một ngành nghề, dẫn đến chồng chéo và lãng phí nguồn lực.
Từ đó, việc sắp xếp lại sẽ giúp giảm đầu mối, đồng thời thúc đẩy các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nâng cao mức độ tự chủ; khắc phục tình trạng có trường nghề ỷ lại vào ngân sách, hoạt động kém hiệu quả, tuyển sinh khó nhưng vẫn duy trì đào tạo những ngành nghề không còn phù hợp với nhu cầu xã hội của một số cơ sở. Bên cạnh đó, chủ trương này cũng mở ra những hướng phát triển mới, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh.
Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang –Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế cũng cho rằng, việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 105/NQ-CP là bước đi tất yếu và kịp thời, xuất phát từ các vấn đề tồn tại lâu nay của hệ thống giáo dục nghề nghiệp như đào tạo phân tán, chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường lao động và doanh nghiệp; nguồn lực đầu tư dàn trải, khó hình thành các cơ sở mạnh, có thương hiệu.
Đặc biệt, Nghị quyết cũng thể hiện rõ định hướng tinh gọn hệ thống, giảm đầu mối nhưng tăng chất lượng; tập trung nguồn lực để hình thành các trường “nòng cốt”. Như vậy, có thể xem đây là bước chuyển dịch từ “phát triển số lượng” sang “phát triển chất lượng và hiệu quả”.
Cũng theo thầy Giang, quy định mỗi tỉnh, thành phố chỉ duy trì tối đa không quá 03 trường cao đẳng (không tính các trường tự chủ tài chính) có thể hình thành trường nghề mạnh, trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao, thu hút doanh nghiệp. Đồng thời, giúp tăng khả năng liên thông – thực hành với quy mô lớn hơn, đa ngành hơn; nâng cao thương hiệu địa phương trong đào tạo nghề nói riêng và hệ thống giáo dục nghề nghiệp nói chung.
Cần ưu tiên duy trì, đầu tư cho các ngành nghề mà địa phương có nhu cầu lớn
Đứng trước nhiều thuận lợi sau sắp xếp, tái cấu trúc hệ thống giáo dục nghề nghiệp, thầy Sáng cũng lưu ý, việc sáp nhập có thể tồn tại một số thách thức. Đơn cử như nguy cơ xung đột văn hóa tổ chức khi hợp nhất các trường có lịch sử phát triển và phương thức vận hành khác nhau, dễ dẫn đến mất đoàn kết nội bộ trong giai đoạn đầu; bài toán bố trí việc làm cho đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên dôi dư sau sáp nhập cũng là vấn đề không dễ giải quyết; ngoài ra, khi thu gọn đầu mối, người học ở vùng sâu, vùng xa có thể gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận cơ sở đào tạo tập trung.
Để bảo đảm ổn định trong quá trình sáp nhập, thầy Sáng cho rằng, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Về đào tạo, cần cam kết giữ nguyên chương trình, chuẩn đầu ra và văn bằng theo đúng thỏa thuận ban đầu đối với các khóa học đang triển khai, tránh gây xáo trộn lộ trình học tập của sinh viên. Về tâm lý, cần tổ chức đối thoại với giảng viên và người học nhằm minh bạch thông tin về lộ trình sáp nhập, giải tỏa lo ngại liên quan đến quyền lợi và bằng cấp. Về quản trị, cần đẩy mạnh số hóa hồ sơ học tập để bảo đảm việc chuyển giao dữ liệu giữa các đơn vị diễn ra thông suốt, không gián đoạn.
Ngoài ra, thầy Sáng cũng đề xuất việc sắp xếp cần thực hiện theo lộ trình phù hợp, tránh triển khai ồ ạt để các cơ sở có thời gian ổn định tổ chức và nhân sự. Đồng thời, quá trình sáp nhập cần ưu tiên duy trì và đầu tư cho các ngành nghề mà địa phương có nhu cầu lớn, thay vì cắt giảm cơ học theo số lượng.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đối với nhân sự dôi dư, bao gồm chế độ đãi ngộ hợp lý, hỗ trợ đào tạo lại hoặc chuyển đổi nghề nghiệp cho đội ngũ ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc diện tinh giản; đồng thời bố trí nguồn kinh phí đặc thù cho các cơ sở mới sau sáp nhập nhằm nâng cấp cơ sở vật chất và chuẩn hóa đội ngũ theo quy mô mới; cùng với đó là các chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hoạt động đào tạo và tiếp nhận sinh viên thực tập.
“Việc sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở địa phương dù có thể phát sinh khó khăn ban đầu, nhưng sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng và vị thế của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0”, thầy Sáng nhấn mạnh.
Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế cũng lưu ý, quá trình sắp xếp hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở địa phương có thể gây nguy cơ mất cân đối ngành nghề nếu quy hoạch không tốt; nảy sinh tâm lý e ngại, thiếu đồng thuận trong nội bộ các trường nghề; nguy cơ “hành chính hóa” việc sáp nhập nếu làm vội, làm thiếu chiến lược.
“Điểm mấu chốt là cần giữ lại ít trường nhưng phải thật sự mạnh và phù hợp đặc thù địa phương”, thầy Giang nhấn mạnh.
Theo đó, muốn công tác sắp xếp hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở địa phương được diễn ra hiệu quả, thầy Giang cho rằng, chúng ta không nên làm theo kiểu “cơ học” mà cần tiếp cận theo hướng chiến lược.
Thứ nhất, cần quy hoạch dựa trên nhu cầu thực, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh/thành phố. Đồng thời, mỗi địa phương phải phân tích nhu cầu lao động từng ngành (công nghiệp, du lịch, dịch vụ…) để có định hướng cho phù hợp.
Thứ hai, cần đánh giá khách quan từng cơ sở giáo dục nghề nghiệp dựa trên quy mô tuyển sinh, tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, cơ sở vật chất, đội ngũ, khả năng tự chủ tài chính; tránh tối đa tình trạng “giữ lại theo cảm tính” hoặc “cào bằng”.
Thứ ba, cần gắn với tự chủ và trách nhiệm giải trình. Sau sắp xếp, các trường phải có chiến lược phát triển rõ ràng; cam kết đảm bảo số lượng tuyển sinh tối thiểu; cam kết chất lượng đầu ra; tăng cường hợp tác và gắn kết doanh nghiệp; cam kết lộ trình tự chủ tài chính.
Ở góc độ lĩnh vực y tế, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Đặng Thùy Trâm nhấn mạnh, đây là khối ngành đặc thù, do đó, cần đặc biệt lưu ý đến việc bố trí cơ sở đào tạo gắn với yếu tố địa lý và hệ thống thực hành, như có bệnh viện trực thuộc hoặc mối liên kết chặt chẽ với các cơ sở y tế. Bởi, sinh viên khối ngành này chủ yếu học tập, rèn luyện tại môi trường thực hành nhằm bảo đảm năng lực nghề nghiệp y tế sau tốt nghiệp.
Bên cạnh đó, việc sáp nhập cơ sở đào tạo y tế vào các trường đa ngành cũng không đơn giản, bởi để tổ chức đào tạo hiệu quả, các trường cần phải đầu tư hệ thống phòng thực hành chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu đặc thù của lĩnh vực y tế, điều mà không thể áp dụng tương tự như các ngành nghề khác. Vì vậy, nên để cho cơ sở đang đào tạo y tế trên cùng địa phương sáp nhập vào với nhau để cùng cộng hưởng phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế tốt hơn, tránh sáp nhập vào trường đa ngành.