ĐHQG TPHCM dự kiến đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp: Bước đi rất cần thiết dù không ít trở ngại

10/02/2026 06:28
Ngọc Huyền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Chủ trương đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp một năm sau mỗi 5 năm công tác được kỳ vọng tăng kết nối thực tiễn, nâng chất đào tạo và nghiên cứu.

Các tiến sĩ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có một năm làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp nước ngoài sau mỗi 5 năm để không “lệch pha” với thị trường. Thông tin trên được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ tại buổi gặp gỡ các nhà khoa học trẻ, đầu ngành thuộc chương trình VNU350. Chủ trương này được các nhà giáo đánh giá là một định hướng mới mang tính chiến lược, nhằm tăng cường kết nối giữa đại học và doanh nghiệp.

Tăng cường kết nối thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng đây là một mô hình không mới trên thế giới và bản thân nhà trường cũng đã mong muốn thực hiện từ lâu.

Theo thầy Phúc, tại nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển, việc giảng viên, nhà khoa học luân chuyển giữa môi trường học thuật và doanh nghiệp đã trở thành thông lệ. Sự dịch chuyển này giúp đội ngũ nghiên cứu không bị bó hẹp trong không gian giảng đường hay phòng thí nghiệm, mà có cơ hội tiếp cận trực tiếp với những bài toán thực tế của nền kinh tế.

"Ở góc độ học thuật, lợi ích đầu tiên và rõ nét nhất của chủ trương này là giúp giảng viên, đặc biệt là các tiến sĩ trẻ, liên tục cập nhật xu hướng công nghệ, nhu cầu thị trường và sự vận hành thực tế của doanh nghiệp. Khi làm việc trong môi trường công nghiệp, nhà khoa học sẽ nhìn thấy những vấn đề cụ thể, những ràng buộc về chi phí, tiến độ, tiêu chuẩn chất lượng hay cạnh tranh thị trường - những yếu tố đôi khi không hiện diện đầy đủ trong môi trường đại học.

Điều này giúp các tiến sĩ “không bị ù lì”, không chỉ đi theo lối mòn nghiên cứu quen thuộc mà thiếu sự cập nhật với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn. Việc tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp sẽ mở rộng tầm nhìn, giúp nhà khoa học điều chỉnh hướng nghiên cứu sao cho sát với nhu cầu xã hội hơn", thầy Phúc nhận định.

image-3.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: HCMUT

Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu, lợi ích còn lan tỏa sang hoạt động giảng dạy. Một giảng viên từng trải qua môi trường doanh nghiệp sẽ có thêm ví dụ thực tế, tình huống cụ thể, câu chuyện từ thực tiễn sản xuất - kinh doanh để đưa vào bài giảng. Điều đó giúp sinh viên hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa kiến thức lý thuyết và ứng dụng, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo.

Ở bình diện rộng hơn, chủ trương này còn tạo cơ hội thiết lập và củng cố mối quan hệ hợp tác bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp. Theo thầy Phúc, nếu được tổ chức bài bản, việc đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp không chỉ là sự “trao đổi nhân lực” đơn lẻ, mà có thể hình thành một cơ chế hợp tác hai chiều. Nhà trường cam kết cử giảng viên có chuyên môn cao đến doanh nghiệp; ngược lại, doanh nghiệp có thể tuyển dụng sinh viên, đặt hàng nghiên cứu, tài trợ dự án hoặc đầu tư phòng thí nghiệm.

Thầy Phúc nhấn mạnh yếu tố “win - win” trong mối quan hệ này. Nếu chỉ một phía được lợi thì chính sách khó bền vững. Doanh nghiệp cần nhận được giá trị thực sự từ chuyên môn của tiến sĩ; nhà trường cũng cần đảm bảo đội ngũ của mình được phát triển và không bị tổn thất nhân lực. Khi hai bên cùng có lợi, sự hợp tác mới có thể duy trì lâu dài.

Theo thầy, bản thân Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khi đưa ra định hướng này cũng nhằm mục tiêu giúp đội ngũ không bị “lệch pha” với thị trường. Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ được đặt kỳ vọng lớn, việc gắn nghiên cứu với thực tiễn sản xuất - kinh doanh là xu hướng tất yếu. Nếu triển khai hiệu quả, chủ trương này có thể mang lại lợi ích cho cả ba bên: nhà trường, giảng viên và doanh nghiệp.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hữu Nhân - Trưởng Khoa Kỹ thuật Giao thông, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng từng ra doanh nghiệp làm việc trong thời gian đang là giảng viên tại trường.

514263186-1140974241405164-6112738557420534698-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hữu Nhân - Trưởng Khoa Kỹ thuật Giao thông đang tư vấn cho học sinh. Ảnh: HCMUT

Thầy Nhân chia sẻ: “Với tư cách là người công tác trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, tôi đánh giá cao định hướng của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về việc yêu cầu tiến sĩ có thời gian làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài sau mỗi chu kỳ 5 năm. Đây là một chủ trương phù hợp với xu thế phát triển của đại học nghiên cứu gắn với đổi mới sáng tạo và nhu cầu thực tiễn của xã hội”.

Thầy Nhân cho hay, việc trực tiếp tiếp xúc với môi trường sản xuất, kinh doanh và công nghệ của doanh nghiệp giúp giảng viên, nhà khoa học hiểu rõ hơn các bài toán thực tế, từ đó hình thành các ý tưởng nghiên cứu mới, có tính ứng dụng cao và sát với nhu cầu của thị trường. Đồng thời, trải nghiệm thực tiễn cũng góp phần kích thích tư duy sáng tạo, nâng cao năng lực triển khai nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn một cách hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cho phép khai thác, sử dụng hiệu quả hơn cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và phát triển. Đội ngũ nhân lực từ phía doanh nghiệp cũng có cơ hội tham gia trao đổi học thuật, chia sẻ các vấn đề phát sinh từ thực tiễn sản xuất, qua đó nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu chuyên sâu thông qua hợp tác với các nhà khoa học.

“Nhìn tổng thể, đây là một định hướng mang ý nghĩa lâu dài, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và khẳng định vai trò của đại học trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Việc đưa giảng viên ra thực tiễn giúp gắn kết nghiên cứu lý thuyết với ứng dụng trong sản xuất, đồng thời kết nối đội ngũ nhà khoa học, tạo nên sức mạnh tổng hợp”, thầy Nhân khẳng định.

Tháo gỡ rào cản pháp lý và nhân sự để chủ trương đi vào thực chất

Nhìn nhận sâu hơn về thuận lợi và thách thức khi triển khai, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hữu Nhân chia sẻ, chính sách này có nhiều thuận lợi khi triển khai, đặc biệt ở khía cạnh thúc đẩy sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.

Thông qua quá trình làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, các nhà khoa học có điều kiện mở rộng mạng lưới hợp tác, tập hợp được nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, từ đó hình thành sức mạnh tổng hợp trong nghiên cứu và phát triển. Điều này góp phần nâng cao chất lượng, tính liên ngành và giá trị ứng dụng của các sản phẩm khoa học.

Tuy nhiên, việc triển khai cũng đối mặt với không ít thách thức, nhất là đối với các ngành có tính hàn lâm cao hoặc những lĩnh vực đang thiếu hụt nguồn nhân lực. Từ phía nhà khoa học, vẫn còn tồn tại những hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn theo yêu cầu thực tiễn, kinh nghiệm trong công tác quản trị, quản lý, cũng như kỹ năng làm việc trong môi trường doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một bộ phận giảng viên, nhà nghiên cứu chưa thật sự chủ động, tích cực trong việc hợp tác và liên kết với doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp, cũng còn những hạn chế nhất định như đặt ra các vấn đề nghiên cứu có độ khó cao, yêu cầu giải quyết trong thời gian ngắn, đồng thời kỳ vọng quá lớn vào hiệu quả và kết quả tức thời của nghiên cứu khoa học. Những yếu tố này đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp linh hoạt, lộ trình phù hợp và sự chia sẻ trách nhiệm từ cả hai phía để chính sách đạt hiệu quả bền vững.

vnu350-2048x1363.jpg
Nhiều cơ chế cần tháo gỡ để chủ trương đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp được hiệu quả. Ảnh: HCMUT

Dù đánh giá cao định hướng nói trên, Phó Giáo sư Trần Thiên Phúc cũng thẳng thắn chỉ ra rằng để triển khai trong bối cảnh hiện nay không hề đơn giản. Theo thầy, trở ngại đầu tiên đến từ khung pháp lý và các quy định hiện hành.

Một trong những vấn đề nổi bật là cơ chế tiền lương. Theo quy định, giảng viên không thể cùng lúc hưởng lương từ hai đơn vị. Nếu trong một năm họ làm việc toàn thời gian tại doanh nghiệp, câu hỏi đặt ra là lương sẽ được chi trả theo cơ chế nào. Nếu doanh nghiệp trả lương, vậy nhà trường có tạm dừng chi trả hay không? Nếu doanh nghiệp trả thấp hơn mức thu nhập hiện tại của giảng viên, phần chênh lệch có được bù đắp?

"Ngược lại, nếu doanh nghiệp trả lương cao hơn đáng kể so với thu nhập tại trường, nguy cơ “giữ chân” giảng viên sau khi hết thời gian một năm cũng là điều cần tính đến. Doanh nghiệp trả lương cao hơn thì e rằng giảng viên có thể suy xét đến việc ở lại, không quay về trường. Vì vậy, việc điều động cần có kế hoạch rõ ràng, kèm theo cam kết cụ thể và sự điều phối chặt chẽ từ phía nhà trường.

Cam kết không chỉ giữa nhà trường và giảng viên, mà còn cần giữa nhà trường và doanh nghiệp. Nhà trường có thể cam kết cung cấp nhân sự đủ năng lực, trình độ cao; đổi lại, doanh nghiệp cũng cần cam kết không “săn” nhân lực trong một khoảng thời gian nhất định. Khi đó, mối quan hệ hợp tác mới thực sự bền vững", thầy Phúc nhấn mạnh.

Bên cạnh tiền lương, các yếu tố liên quan đến luật công chức, chế độ bảo hiểm, thâm niên, cũng như sinh hoạt Đảng đối với giảng viên là đảng viên đều cần được làm rõ. Nếu một giảng viên được cử đến làm việc tại doanh nghiệp ở địa phương khác, việc sinh hoạt Đảng sẽ thực hiện như thế nào, ở đâu? Những chi tiết này tưởng chừng nhỏ nhưng lại có ý nghĩa quyết định trong quá trình triển khai.

Một vấn đề khác mà thầy Phúc đặc biệt lưu ý là cơ chế nhân sự đối với các tiến sĩ đang giữ vị trí quản lý như trưởng khoa, phó khoa, trưởng phòng hay phó phòng. Nếu họ tạm thời rời vị trí trong một năm, nhà trường có cần bổ nhiệm người mới thay thế hay chỉ giao quyền tạm thời. Khi họ quay lại, vị trí đó có còn hay không...

Theo thầy Phúc, nếu người được cử đi không giữ chức vụ quản lý, việc sắp xếp tương đối đơn giản. Tuy nhiên, với những người đang đảm nhiệm vị trí lãnh đạo, cần phải cân nhắc kỹ để không gây thiệt thòi cho giảng viên. Chủ trương đưa giảng viên ra doanh nghiệp nhằm giúp nhà giáo cập nhật thực tiễn, không phải để chịu rủi ro về vị trí công tác.

"Ngoài ra, bài toán nhân sự tổng thể của nhà trường cũng phải được tính toán kỹ lưỡng. Hoạt động tuyển sinh, giảng dạy và nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giảng viên. Nếu cùng lúc cử đi hàng chục hoặc hàng trăm người trong khi lực lượng hiện có còn mỏng, nguy cơ thiếu hụt nhân sự là rõ ràng.

Vì vậy, không nên triển khai ồ ạt mà cần có lộ trình cụ thể, thực hiện lần lượt. Ở mỗi khoa, mỗi bộ môn, trong cùng một thời điểm chỉ nên cử một vài người để đảm bảo hoạt động giảng dạy không bị gián đoạn. Song song đó, nhà trường cần có kế hoạch dự trù nhân sự thay thế, đảm bảo chất lượng đào tạo không bị ảnh hưởng", Phó Giáo sư Trần Thiên Phúc cho hay.

Đối với những ngành có tính hàn lâm cao hoặc nguồn nhân lực còn hạn chế, việc cử giảng viên ra doanh nghiệp cũng nên được cân nhắc kỹ. Không phải ngành nào cũng có điều kiện thuận lợi để áp dụng mô hình này theo cùng một cách. Do đó, chiến lược triển khai phải linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực.

Thầy Phúc bày tỏ tin tưởng rằng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu định hướng chung, trong quá trình triển khai sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết, chặt chẽ, giúp các trường đại học thành viên và đội ngũ tiến sĩ yên tâm công tác.

Ngọc Huyền