Trường đại học góp ý về tiêu chí xét chọn học bổng đối với người học nhóm ngành KHCN

10/05/2026 06:24
Thu Trang
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Danh mục nhóm ngành đề xuất được cấp học bổng có thể cân nhắc bổ sung các ngành đào tạo liên quan Công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo nghị định về chính sách học bổng dành cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Theo dự thảo, sinh viên bậc đại học sẽ được cấp học bổng từ 3,7 -5,5 triệu đồng/tháng; ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ, mức hỗ trợ cao hơn, tối đa lên tới 8,4 triệu đồng/tháng.

Cụ thể, danh mục nhóm ngành đề xuất được cấp học bổng dự kiến gồm 15 nhóm ngành bao gồm: Sinh học, Sinh học ứng dụng, Khoa học vật chất, Khoa học trái đất, Toán học, Thống kê, Máy tính, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, Kỹ thuật điện - điện tử và viễn thông, Kỹ thuật hóa học - vật liệu - luyện kim và môi trường, Vật lý kỹ thuật, Kỹ thuật địa chất - địa vật lý và trắc địa, Kỹ thuật mỏ, và Xây dựng.

Cú hích đáng kể cho nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật, công nghệ của Việt Nam trong giai đoạn tới

Trước đề xuất này, trao đổi với Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Ninh Thuận, Viện trưởng Viện Công nghệ Hàng không Vũ trụ, Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất mức học bổng các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược lên tới 5,5 triệu đồng/tháng ở bậc đại học và tối đa 8,4 triệu đồng/tháng ở bậc sau đại học là một tín hiệu tích cực, thể hiện định hướng chiến lược rõ ràng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trước hết, chính sách này không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tài chính mà còn tạo động lực để thu hút, giữ chân người học giỏi theo đuổi các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ chiến lược. Đây đều là những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của quốc gia trong dài hạn.

Có thể thấy, mức học bổng được đề xuất tương đối đáng kể so với mặt bằng chi phí học tập, sinh hoạt hiện nay, thậm chí tương đương học phí tại nhiều trường đại học tự chủ. Với mức hỗ trợ từ 3,7–5,5 triệu đồng/tháng ở bậc đại học và tối đa 8,4 triệu đồng/tháng ở bậc sau đại học, chính sách này có thể giúp người học giảm áp lực kinh tế, yên tâm theo đuổi học tập và nghiên cứu. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khuyến khích sinh viên có năng lực lựa chọn các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Nếu được triển khai đồng bộ, minh bạch và gắn với các chính sách phát triển khoa học – công nghệ khác, chính sách học bổng này có thể tạo ra tác động tích cực đối với việc phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ của Việt Nam trong thời gian tới.

Cũng theo thầy Thuận, danh mục 15 nhóm ngành mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất về cơ bản đã bao phủ các trụ cột cốt lõi của khoa học - công nghệ hiện nay. Đây là bước tiến quan trọng trong việc định hướng ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn phát triển mới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển rất nhanh và xu hướng liên ngành ngày càng rõ nét, danh mục này không nên được xem là “đóng” mà cần có cơ chế cập nhật linh hoạt theo từng giai đoạn.

Cụ thể, có thể cân nhắc bổ sung các ngành đào tạo gắn với nhóm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.

Đồng thời chú ý đến các ngành liên ngành, ngành mới hoặc đang được nhiều cơ sở giáo dục đại học thí điểm đào tạo như bán dẫn và vi điện tử, thiết kế chip, công nghệ lượng tử, khai thác và tinh luyện đất hiếm, công nghệ hàng không vũ trụ hay công nghệ nông nghiệp.

Có thể thấy, danh mục hiện tại tương đối đầy đủ, nhưng nếu chưa bao quát được các ngành công nghệ mới và các chương trình đào tạo thí điểm tại các trường đại học thì nguy cơ mất cân bằng trong chính sách ưu tiên là điều cần tính tới. Vì vậy, danh mục này cần được thiết kế theo hướng mở, có khả năng cập nhật và điều chỉnh linh hoạt thay vì cố định trong thời gian dài.

image-2.jpg
Ảnh minh họa: Mộc Trà.

Cùng bàn về vấn đề này, theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Cường - Phó Trưởng khoa, Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trong bối cảnh nhiều sinh viên giỏi có xu hướng chuyển sang các ngành dễ kiếm việc, thu nhập cao, việc có chính sách hỗ trợ tài chính đủ mạnh sẽ là điều kiện quan trọng để thu hút người học quay trở lại với các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật nền tảng.

Có thể nói, đây không chỉ đơn thuần là chính sách hỗ trợ tài chính mà còn là giải pháp mang tính chiến lược nhằm tái cấu trúc nguồn nhân lực khoa học – kỹ thuật của Việt Nam. Nếu được triển khai đồng bộ, minh bạch cùng tiêu chí tuyển chọn phù hợp, chính sách này hoàn toàn có thể trở thành “đòn bẩy” tạo ra bước đột phá trong phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao trong thời gian tới.

Bàn về mức hỗ trợ của học bổng, theo thầy Cường, thực tế, chi phí tối thiểu của sinh viên và học viên sau đại học thường dao động khoảng 5,5–8,5 triệu đồng/tháng, trong đó tiền nhà ở khoảng 2 đến 3,5 triệu đồng/tháng, ăn uống khoảng 2,5 đến 3,5 triệu đồng/tháng, còn chi phí đi lại, tài liệu và nghiên cứu khoảng 1 đến 2 triệu đồng/tháng.

Sinh viên giỏi trong các ngành khoa học, công nghệ hiện có nhiều lựa chọn khác như làm freelance, thực tập doanh nghiệp, nhận học bổng doanh nghiệp, học bổng quốc tế hoặc du học. Trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin hay trí tuệ nhân tạo nên mức học bổng này chưa thực sự cạnh tranh so với thu nhập từ công việc bán thời gian.

Với bậc sau đại học, nghiên cứu sinh cần có điều kiện để toàn tâm toàn ý cho nghiên cứu, trong khi mức hỗ trợ 8,4 triệu đồng/tháng vẫn có thể khiến họ phải làm thêm để trang trải cuộc sống, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu. Nếu so sánh với nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapore, Hoa Kỳ hay các nước châu Âu, mức hỗ trợ dành cho học viên sau đại học thường được thiết kế ở mức “đủ sống”, giúp người học có thể tập trung hoàn toàn cho hoạt động học thuật và nghiên cứu khoa học.

Điều này cho thấy, với sinh viên đại học nhận mức hỗ trợ 3,7–5,5 triệu đồng/tháng thì học bổng đủ trang trải một phần chi phí sinh hoạt cơ bản. Đối với học viên sau đại học, mức tối đa 8,4 triệu đồng/tháng đã gần chạm ngưỡng chi tiêu tối thiểu, nhưng vẫn chưa thực sự đủ nếu phải tự trang trải toàn bộ cuộc sống.

Dù vậy, chính sách vẫn có ý nghĩa tích cực khi giúp giảm áp lực tài chính, tạo điều kiện để người học tập trung hơn cho học tập và nghiên cứu, đồng thời mang lại cảm giác được Nhà nước đầu tư, đặc biệt với các ngành khoa học, công nghệ vốn có khối lượng học tập nặng.

Các tiêu chí xét chọn học bổng có tính sàng lọc tốt và hướng tới đúng đối tượng

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối tượng được xét học bổng hỗ trợ học bổng gồm:

Nhóm thứ nhất, các thí sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế (thời gian đạt giải không quá 03 năm).

Nhóm thứ hai, các thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp trong tổ hợp xét tuyển gồm môn Toán và hai môn trong số bốn môn Lý, Hóa, Sinh, Tiếng Anh từ 22,50 điểm trở lên (không tính điểm ưu tiên, điểm cộng, không tính điểm quy đổi môn tiếng Anh nếu thí sinh sử dụng chứng chỉ Ngoại ngữ để miễn thi tốt nghiệp). Nhóm thí sinh thứ hai cũng phải bảo đảm nằm trong nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc.

Bên cạnh đó, để duy trì học bổng trong toàn khóa, người học phải đáp ứng các yêu cầu về kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, kỷ luật học tập và, đối với bậc sau đại học, là năng lực nghiên cứu khoa học.

Bàn về vấn đề này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Ninh Thuận, các tiêu chí xét chọn và duy trì học bổng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra nhìn chung khá chặt chẽ, có tính sàng lọc tốt và hướng tới đúng đối tượng là người học có năng lực nổi trội.

Đối với nhóm thứ nhất, việc ưu tiên thí sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế là hoàn toàn hợp lý, bởi đây là những học sinh đã được kiểm chứng năng lực học thuật ở mức cao và có tiềm năng phát triển trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ.

Đối với nhóm thứ hai, tiêu chí đạt từ 22,5 điểm trở lên kèm điều kiện nằm trong top 30% thí sinh trúng tuyển cao nhất của cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc cho thấy cách tiếp cận theo hướng xếp hạng tương đối (relative ranking), thay vì chỉ dựa vào điểm tuyệt đối. Cách làm này giúp thích ứng với sự khác biệt về điểm chuẩn giữa các ngành và từng năm tuyển sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đầu vào một cách đồng đều hơn.

“Tuy nhiên, các tiêu chí đối với nhóm thứ hai hiện mới mang tính ngưỡng tối thiểu để Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện phân bổ học bổng. Trên thực tế, điểm chuẩn của nhiều trường đại học top đầu hiện nay thường cao hơn đáng kể so với mức 22,5 điểm. Nếu cấp học bổng cho toàn bộ sinh viên đạt tiêu chí của nhóm này thì sẽ đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn.

Vì vậy, cách tiếp cận hợp lý hơn có thể là phân bổ số lượng học bổng dựa trên nhu cầu nhân lực khoa học, công nghệ của Nhà nước theo từng ngành hoặc nhóm ngành đào tạo trong từng giai đoạn. Theo đó, sinh viên đăng ký vào các ngành STEM, nếu đạt mức điểm nằm trong chỉ tiêu học bổng được phân bổ cho ngành sẽ được nhận hỗ trợ và có quyền theo học tại bất kỳ cơ sở đào tạo nào mà mình trúng tuyển. Đặc biệt, các thí sinh vẫn phải đáp ứng các tiêu chí tối thiểu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra”, thầy Thuận đề xuất.

bka-hcm.jpg
Ảnh minh hoạ: HCMUT

Còn theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Cường, nếu nhìn một cách khách quan, các tiêu chí xét chọn và duy trì học bổng như đề xuất tương đối cao so với mặt bằng chung, nhưng lại phù hợp với mục tiêu của chương trình là lựa chọn đúng những người học thực sự có năng lực và có định hướng gắn bó lâu dài với lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nói cách khác, tiêu chí không quá cao đến mức tạo ra rào cản, nhưng đủ để thực hiện chức năng sàng lọc.

Xét trên mặt bằng chung của tuyển sinh đại học hiện nay, mức điểm từ 22,5 trở lên đã tương đương nhóm thí sinh top 20–30% cả nước. Bên cạnh đó, yêu cầu duy trì GPA từ 2.5–3.2 cũng không hề dễ đối với các ngành khoa học, công nghệ vốn có khối lượng kiến thức nặng và tính cạnh tranh cao.

Ngoài ra, thực tế cũng có những sinh viên rất giỏi nhưng không có giải học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế nên có thể bị “lọt lưới” nếu tiêu chí quá cứng.

Tuy nhiên, nếu đặt trong mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược chất lượng cao thì những yêu cầu này vẫn có cơ sở hợp lý, bởi đây là nhóm ngành đòi hỏi nền tảng toán học và khoa học tự nhiên vững chắc. Đồng thời, học bổng sử dụng ngân sách nhà nước nên cần bảo đảm nguyên tắc đầu tư đúng người, đúng năng lực. Nếu tiêu chí quá thấp, chính sách dễ bị dàn trải và giảm hiệu quả tạo đột phá.

Điểm tích cực của cơ chế hiện nay là yêu cầu duy trì GPA giúp người học giữ được động lực học tập lâu dài, tránh tâm lý buông lỏng sau khi nhận học bổng, đặc biệt ở các môn nền tảng như toán, vật lý hay lập trình.

Ngoài ra, cũng cần cân nhắc đặc thù của nhiều ngành khoa học, công nghệ khi có những học phần “gãy điểm” như Phương pháp tính, Đại số tuyến tính hay các môn kỹ thuật cơ sở, khiến GPA của sinh viên dễ sụt giảm dù năng lực thực tế vẫn tốt. Nếu tiêu chí duy trì quá cao và cứng nhắc, sinh viên có thể chịu áp lực lớn hoặc rơi vào tình trạng học để giữ điểm thay vì tập trung phát triển năng lực nghiên cứu và sáng tạo.

Cũng theo thầy Cường, học bổng chỉ là một phần của bài toán. Để thu hút, giữ chân và tạo “đường băng” nghề nghiệp cho người học STEM, cần xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, chứ không chỉ dừng ở hỗ trợ tài chính.

Trước hết, cần tăng cường hỗ trợ nghiên cứu ngay từ bậc đại học để sinh viên thực sự được tham gia hoạt động khoa học. Trên thực tế, người học chỉ gắn bó lâu dài với STEM khi họ được làm khoa học thật. Vì vậy, cần có kinh phí hỗ trợ đề tài nghiên cứu cho sinh viên và học viên sau đại học; cơ chế trợ lý nghiên cứu (RA) có lương như mô hình phổ biến tại Mỹ hay Singapore; tạo điều kiện tiếp cận phòng thí nghiệm, thiết bị và phần mềm chuyên dụng.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để mở rộng cơ hội việc làm cho người học. Các chương trình thực tập có lương tại doanh nghiệp công nghệ, bán dẫn, AI hay năng lượng cần được thúc đẩy mạnh hơn. Doanh nghiệp có thể tham gia “đặt hàng” sinh viên từ sớm hoặc đồng tài trợ học bổng theo mô hình hợp tác công – tư.

Một yếu tố quan trọng khác là thúc đẩy quốc tế hóa đào tạo. Đây là lĩnh vực mang tính toàn cầu nên người học cần được mở rộng cơ hội tiếp cận môi trường học thuật quốc tế thông qua các chương trình trao đổi, học kỳ ngắn hạn ở nước ngoài, hỗ trợ tham dự hội thảo quốc tế hoặc tham gia các nhóm nghiên cứu hợp tác với phòng thí nghiệm nước ngoài.

Còn theo Chuyên gia giáo dục, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, nguồn nhân lực STEM trình độ cao là yếu tố then chốt, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia trong thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao. Dù số lượng sinh viên ngành STEM có xu hướng tăng trong những năm gần đây, song nhóm này vẫn chiếm số ít so với tổng số sinh viên bậc đại học.

Do đó, cần có những chính sách mang tính chiến lược, nhằm thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển trong tương lai như dự thảo nghị định về chính sách học bổng dành cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược là hoàn toàn cần thiết.

Mức hỗ trợ học bổng không chỉ là khoản hỗ trợ tài chính mà còn là thông điệp cho thấy rõ sự đầu tư của nhà nước vào nền khoa học công nghệ tương lai. Tuy nhiên, để thu hút sinh viên giỏi theo học các ngành STEM một cách bền vững, bên cạnh chính sách học bổng và hỗ trợ sinh hoạt như hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược.

Trước hết, cần tăng cường liên kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào đào tạo thông qua học bổng, hỗ trợ nghiên cứu, tiếp nhận thực tập và cam kết tuyển dụng. Điều này giúp sinh viên nhìn thấy rõ cơ hội nghề nghiệp, từ đó có thêm động lực theo học các ngành STEM.

Đồng thời, cần phát triển hệ sinh thái nghiên cứu trong trường đại học, tạo điều kiện để sinh viên giỏi, đặc biệt ở bậc sau đại học, tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh. Nhìn chung, để thu hút sinh viên giỏi vào STEM, cần có chính sách đồng bộ về tài chính, đào tạo, nghiên cứu, việc làm và hội nhập quốc tế. Khi được hỗ trợ thực chất và có lộ trình phát triển rõ ràng, người học sẽ gắn bó hơn với lĩnh vực này.

Thu Trang