Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh: Ba năm liền chỉ số KHCN bằng 0, tỉ lệ nhập học chưa đạt chuẩn

10/08/2026 08:40
Mai Anh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Báo cáo đánh giá thực hiện chuẩn cơ sở giáo dục đại học (lập ngày 28/5/2026) của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, từ năm 2023 đến năm 2025, không có nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ; tỉ lệ nhập học trung bình 3 năm chỉ đạt 34,2%.

Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh (trực thuộc Bộ Công thương) tiền thân là Trường Trung học kỹ thuật mỏ, được thành lập năm 1925.

Năm 1996, trường được nâng cấp trở thành Trường Cao đẳng Kỹ thuật Mỏ. Năm 2007, Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kỹ thuật Mỏ.

Theo thông tin trên website, Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh là cơ sở giáo dục đại học công lập đảm bảo một phần chi thường xuyên. Nhà trường có sứ mạng là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Hiện, Tiến sĩ Hoàng Hùng Thắng giữ vị trí Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.

cong-nghiep-quang-ninh.jpg

Tỉ lệ nhập học trung bình 3 năm chưa đạt 50% theo Chuẩn

Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh đào tạo bậc đại học (chính quy, vừa làm vừa học) và thạc sĩ. Tính đến tháng 5/2026, tổng quy mô đào tạo của đơn vị đạt 1.766 người.

quy-mo-dao-tao-truong-dai-hoc-cong-nghiep-quang-ninh.png

Theo biểu đồ trên, quy mô đào tạo đại học chính quy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.566 người (tương đương 88,7% tổng quy mô đào tạo). Quy mô đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học là 134 người (chiếm 7,6% tổng quy mô đào tạo). Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ là 66 học viên (chiếm 3,7%).

Chỉ tiêu tuyển sinh của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh cũng có sự biến động trong giai đoạn từ năm 2022–2025. Theo số liệu thống kê, từ năm 2022 (1.959 chỉ tiêu) đến năm 2025 (1.545 chỉ tiêu), chỉ tiêu tuyển sinh của nhà trường giảm 21,1%. Ngược lại, số sinh viên nhập học tăng gần gấp đôi, từ 377 lên 729 người.

truong-dhcnqn.png

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập học trên chỉ tiêu cũng tăng đáng kể. Từ năm 2022 (19,24%) đến năm 2025 (47,18%), tỉ lệ này tăng 27,94%.

Cũng theo số liệu thống kê, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng ngành đào tạo tăng trong giai đoạn từ năm 2022–2023. Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên môn giảm trong giai đoạn từ năm 2024–2025 có xu hướng giảm.

quy-mo-dao-tao-truong-dai-hoc-cong-nghiep-quang-ninh-1.png

Cụ thể, theo Báo cáo tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, từ năm 2022 (57,2%) đến năm 2023 (72,2%), tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm được tính theo ngành đào tạo của nhà trường có xu hướng tăng, khoảng 15%.

Còn tại Báo cáo Số 94/BC-ĐHCNQN ngày 25/6/2026, từ năm 2024 (90,97%) đến năm 2025 (77,5%), tỉ lệ người học tốt nghiệp có việc làm được tính theo chuyên môn giảm khoảng 13%.

Đáng nói, Tiêu chí 5.1 Thông tư Số 01/2024/TT-BGDĐT về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định: “Tỷ lệ nhập học trên số chỉ tiêu công bố trong kế hoạch tuyển sinh hằng năm, tính trung bình 3 năm gần nhất không thấp hơn 50%”. Trong khi đó, tại Báo cáo đánh giá thực hiện chuẩn cơ sở giáo dục đại học (lập ngày 28/5/2026) của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, tỉ lệ nhập học trung bình 3 năm của nhà trường là 34,2%, không đạt theo quy định trên.

Ảnh chụp tại Báo cáo đánh giá thực hiện chuẩn cơ sở giáo dục đại học (lập ngày 28/5/2026) của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.
Ảnh chụp tại Báo cáo đánh giá thực hiện chuẩn cơ sở giáo dục đại học (lập ngày 28/5/2026) của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.

Bên cạnh quy mô đào tạo, đội ngũ giảng viên là một trong những nội dung đáng chú ý của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.

Báo cáo đánh giá thực hiện chuẩn cơ sở giáo dục đại học lập ngày 28/5/2026, cho thấy nhà trường có 214 giảng viên toàn thời gian, trong đó 207 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 96,7% tổng số giảng viên toàn thời gian.

Về điều kiện làm việc, 203/214 giảng viên toàn thời gian có chỗ làm việc riêng biệt, bảo đảm diện tích tối thiểu 6 m²/giảng viên, tương đương khoảng 94,9%.

Cơ cấu giảng viên Đại học Thạc sĩ Tiến sĩ (bao gồm GS/PGS) Tổng
Giảng viên toàn thời gian 7 164 43 214
Giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động 6 161 40 207
Giảng viên toàn thời gian có chỗ làm việc riêng biệt (tối thiểu 6m2/GV) 7 161 35 203

Xét theo trình độ đào tạo, đội ngũ 214 giảng viên toàn thời gian gồm 43 giảng viên trình độ tiến sĩ (chiếm khoảng 20,1%), 164 thạc sĩ (76,6%) và 7 giảng viên trình độ đại học (3,3%).

Trong nhóm 207 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, có 40 giảng viên trình độ tiến sĩ (19,3%), 161 thạc sĩ (77,8%) và 6 giảng viên trình độ đại học (2,9%).

Còn trong số 203 giảng viên có chỗ làm việc riêng biệt, cơ cấu gồm 35 giảng viên trình độ tiến sĩ (17,2%), 161 thạc sĩ (79,3%) và 7 giảng viên trình độ đại học (3,4%).

Nhiều năm liên tiếp không có nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ

Theo số liệu thống kê, tổng thu của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh tăng liên tục trong những năm gần đây. Năm 2025, tổng thu đạt 56,497 tỷ đồng, tăng 19,964 tỷ đồng (54,6%) so với năm 2024 (36,533 tỷ đồng).

bieu-do.png

Nếu tính trong cơ cấu nguồn thu, thu từ ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, và giảm dần trong tổng thu của nhà trường. Theo đó, giai đoạn từ năm 2022–2025, nguồn thu từ hỗ trợ chi thường xuyên của Nhà nước/nhà đầu tư tăng từ 16,233 tỷ đồng lên 29,674 tỷ đồng (tăng khoảng 82,8%).

Thu học phí, lệ phí từ người học là nguồn thu có tốc độ tăng trưởng nổi bật. Cụ thể, từ năm 2022 (9,792 tỉ đồng) đến năm 2025 (24,565 tỉ đồng), nguồn thu từ học phí, lệ phí của người học tăng 14,773 tỷ đồng (tương đương tăng khoảng 150,9%). Đồng thời, tỷ trọng của nguồn thu này trong tổng thu tăng từ 36,3% lên 43,5%.

Trên website, một trong những nội dung được nêu về sứ mạng của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh là: “là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ”. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê, nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ đạt 0,7 tỷ đồng vào năm 2022, chiếm khoảng 2,6% tổng thu của năm đó. Song, từ năm 2023 đến nay, bảng số liệu mới nhất không thể hiện khoản thu từ hoạt động này của từng năm.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh ghi nhận sự gia tăng về số lượng đề tài cấp cơ sở. Cụ thể, từ ngày 31/12/2025 (16 đề tài) đến ngày 25/6/2026 (19 đề tài), đề tài cấp cơ sở tăng 03 đề tài, tương đương 18,75%.

Còn các nhóm đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ, tỉnh, hợp tác doanh nghiệp trong nước và hợp tác quốc tế đều chưa được thể hiện trong báo cáo.

Ảnh chụp màn hình cho thấy các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện tính đến ngày 31/12/2025 của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.
Ảnh chụp màn hình cho thấy các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện tính đến ngày 31/12/2025 của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.
Ảnh chụp màn hình cho thấy các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện tính đến ngày 25/6/2026 của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.
Ảnh chụp màn hình cho thấy các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện tính đến ngày 25/6/2026 của Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh.

Số liệu thống kê cũng cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2026, số bài báo khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận ngoài danh mục WoS, Scopus và bằng độc quyền giải pháp hữu ích đạt 61 bài (tăng 5 bài so với năm 2025).

Công trình công bố Tính đến 31/12/2025 Tính đến tháng 6/2026
Tổng số bài báo khoa học được HĐGSNN công nhận không nằm trong danh mục WoS, Scopus và bằng độc quyền giải pháp hữu ích 56 61
Tổng số công bố WoS, Scopus tất cả các lĩnh vực 12 10
Tổng số sách chuyên khảo 13 9
Tổng số bằng sáng chế 0 0
Tổng số bằng độc quyền giải pháp hữu ích 0 0

Trong khi đó, số công bố WoS, Scopus ở tất cả các lĩnh vực giảm từ 12 xuống 10 công bố, tương đương giảm 16,7%; số sách chuyên khảo cũng giảm từ 13 xuống 9, giảm 30,8%. Số bằng sáng chế và bằng độc quyền giải pháp hữu ích đều giữ nguyên ở mức 0.

Theo Kế hoạch 06 được Bộ Chính trị ban hành ngày 28/7 trong đó Bộ Chính trị yêu cầu Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng chuyển trường đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý; sáp nhập, hợp nhất các trường trên cùng địa bàn, trừ các trường thuộc lĩnh vực đặc thù. Việc sắp xếp này đảm bảo giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở đại học công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027.

Trước đó, tại Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu triển khai sắp xếp, tái cấu trúc hệ thống các cơ sở giáo dục đại học; sáp nhập hoặc giải thể các cơ sở không đạt chuẩn; xóa bỏ các tầng nấc trung gian, bảo đảm bộ máy quản trị tinh gọn, thống nhất và hiệu quả. Đồng thời, nghiên cứu sáp nhập một số viện nghiên cứu với trường đại học, tăng cường quản lý nhà nước và xem xét chuyển một số trường đại học về địa phương quản lý nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.

Mai Anh