Tại dự thảo chuẩn chương trình đào tạo tiến sĩ lĩnh vực vi mạch bán dẫn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nghiên cứu sinh được miễn học phí, hỗ trợ học bổng, sinh hoạt phí và kinh phí nghiên cứu. Đổi lại, họ phải dành toàn bộ thời gian học tập, nghiên cứu ở trường, tham gia các đề tài khoa học.
Ngoài ra, dự thảo cũng quy định cơ sở đào tạo chỉ được tuyển nghiên cứu sinh khi có đề tài khoa học phù hợp với lĩnh vực vi mạch bán dẫn và nguồn tài chính đảm bảo. Nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn của các cơ sở giáo dục đại học đào tạo về lĩnh vực vi mạch bán dẫn.
Được bảo đảm về tài chính, nghiên cứu sinh sẽ tập trung cao độ cho học tập và nghiên cứu
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quy - Trưởng khoa, khoa Vật liệu điện tử và linh kiện, Trường Vật liệu (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, việc nghiên cứu sinh ngành bán dẫn phải dành toàn bộ thời gian cho học tập và nghiên cứu tại cơ sở đào tạo là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế và bản chất của đào tạo tiến sĩ.
Theo thầy Quy, ở các quốc gia phát triển, nghiên cứu sinh tiến sĩ bắt buộc phải làm việc toàn thời gian, coi nghiên cứu là nhiệm vụ chính và duy nhất. Đối với lĩnh vực vi mạch bán dẫn - một ngành đòi hỏi hàm lượng khoa học - công nghệ cao, cường độ nghiên cứu lớn và liên tục thí nghiệm, yêu cầu này lại càng trở nên cần thiết.
“Thực tế tại Việt Nam thời gian qua, do áp lực học phí, sinh hoạt và trách nhiệm gia đình, không ít nghiên cứu sinh phải học theo hình thức bán thời gian, dẫn đến việc phân tán nguồn lực, thiếu tập trung và gặp nhiều khó khăn trong nghiên cứu chuyên sâu.
Vì vậy, việc Nhà nước hỗ trợ toàn diện cho nghiên cứu sinh, bao gồm miễn học phí, cấp học bổng, hỗ trợ sinh hoạt phí và kinh phí nghiên cứu, sẽ tạo điều kiện để các nghiên cứu sinh yên tâm dành trọn thời gian cho học tập, từ đó động lực mạnh mẽ hơn cho người học.
Từ nhiều năm trước, Đại học Bách khoa Hà Nội đã chủ trương hỗ trợ học phí cho nghiên cứu sinh, đồng thời coi họ là một thành viên chính thức của đơn vị đào tạo. Theo đó, nghiên cứu sinh được xem tương đương như một cán bộ của trường, làm việc toàn thời gian và toàn tâm cho nghiên cứu khoa học.
Do đó, nếu Nhà nước đứng ra hỗ trợ tài chính và có thể bảo đảm đầy đủ các điều kiện để nghiên cứu sinh yên tâm công tác tại một cơ sở đào tạo, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho người học mà còn tạo thuận lợi lớn cho đội ngũ giảng viên hướng dẫn, góp phần nâng cao trình độ và chất lượng đào tạo tiến sĩ nói chung.
Nghiên cứu trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn là quá trình tốn kém, đòi hỏi phải thử nghiệm liên tục, tối ưu hóa nhiều phương án khác nhau, nên việc có nguồn tài chính ổn định sẽ giúp giảm áp lực cho cả nghiên cứu sinh lẫn giảng viên hướng dẫn. Đây là một mô hình hợp lý, cần được Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quy bày tỏ.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Chí - Trưởng khoa, Khoa Điện tử, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên), xét về mặt lý thuyết cũng như mục tiêu chiến lược dài hạn, quy định yêu cầu nghiên cứu sinh ngành bán dẫn phải dành toàn bộ thời gian cho học tập và nghiên cứu là cần thiết, nhằm bảo đảm chất lượng đầu ra và từng bước “chuẩn hóa” quy trình đào tạo tiến sĩ theo thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, tính khả thi của quy định này mới chỉ ở mức trung bình, bởi phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện đi kèm. Trước hết, quy định chỉ thực sự khả thi khi có cơ chế hỗ trợ tài chính đủ mạnh, bao gồm miễn học phí và sinh hoạt phí ở mức cho phép nghiên cứu sinh ổn định cuộc sống mà không phải lo toan kinh tế.
Nếu mức học bổng thấp hơn thu nhập khởi điểm của một kỹ sư bán dẫn trên thị trường - vốn đang ở mức rất cao - thì việc thu hút nhân lực chất lượng cao theo học tiến sĩ sẽ gặp nhiều trở ngại. Bên cạnh đó, yêu cầu nghiên cứu sinh làm việc toàn thời gian tại trường sẽ trở nên hình thức nếu cơ sở đào tạo thiếu hệ thống phòng thí nghiệm, công cụ thiết kế chuyên dụng (EDA tools) hoặc không có các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) thực chất để họ tham gia.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Chí cũng cho rằng, ngay cả khi được hỗ trợ tài chính, nghiên cứu sinh vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn. Ngành bán dẫn hiện đang “khát” nhân lực với mức lương và đãi ngộ rất hấp dẫn từ các tập đoàn lớn như Intel, Samsung hay các công ty thiết kế chip, trong khi việc dành 3-4 năm chỉ để nghiên cứu thường đồng nghĩa với sự hy sinh đáng kể về thu nhập.
Thực tế cũng cho thấy, số lượng trường đại học trong nước có đầy đủ hệ thống phòng sạch (cleanroom) và dây chuyền thử nghiệm hiện đại còn hạn chế, khiến nghiên cứu sinh dễ rơi vào tình trạng “có thời gian nhưng thiếu công cụ”, nghiên cứu chủ yếu dừng ở lý thuyết hoặc mô phỏng, khó tiếp cận thực tiễn sản xuất.
Ngoài ra, nếu chương trình đào tạo không được thiết kế gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp, nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp có nguy cơ rơi vào tình trạng “thừa bằng cấp nhưng thiếu kỹ năng thực tế”, chưa đáp ứng được những yêu cầu cụ thể của ngành công nghiệp bán dẫn.
“Việc Nhà nước cam kết miễn học phí, cấp học bổng, hỗ trợ sinh hoạt phí và bảo đảm kinh phí nghiên cứu cho nghiên cứu sinh ngành bán dẫn được kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động tích cực và rõ nét, đặc biệt trên hai phương diện là thu hút nhân tài và nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ.
Trước hết, chính sách này góp phần giảm đáng kể áp lực kinh tế, qua đó xóa bỏ một trong những rào cản lớn nhất đối với người học, đồng thời khẳng định bán dẫn là một “ngành học trọng điểm” được ưu tiên đầu tư ở tầm quốc gia.
Điều này không chỉ tạo tâm lý yên tâm, tự tin cho người học mà còn có sức hút đối với các tài năng đang cân nhắc giữa lựa chọn du học ở nước ngoài hay theo đuổi con đường nghiên cứu trong nước.
Bên cạnh đó, khi được bảo đảm về tài chính, nghiên cứu sinh có điều kiện tập trung cao độ cho hoạt động học tập và nghiên cứu, có thể dành 10-12 giờ mỗi ngày làm việc tại phòng thí nghiệm - yếu tố then chốt để đáp ứng các chuẩn đầu ra cao, như công bố bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín thuộc nhóm Q1, Q2.
Đặc biệt, việc cấp kinh phí nghiên cứu trực tiếp giúp nghiên cứu sinh chủ động hơn trong mua sắm vật tư, linh kiện, thuê dịch vụ gia công chip (MPW) hoặc tiếp cận các phần mềm thiết kế chuyên dụng có chi phí lớn, từ đó giúp các luận án tiến sĩ vượt qua giới hạn lý thuyết thuần túy, hướng tới giải quyết những bài toán công nghệ mang tính thực tiễn cao”, Trưởng khoa, khoa Điện tử, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên) cho hay.
Ưu tiên tuyển nghiên cứu sinh có đề tài khoa học phù hợp sẽ gắn đào tạo tiến sĩ với hoạt động thực chất
Để mô hình đào tạo tiến sĩ toàn thời gian theo chuẩn mới không chỉ dừng lại ở mức “quy định trên giấy” mà thực sự hình thành được đội ngũ chuyên gia có năng lực làm chủ công nghệ, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Chí, các trường đại học cần thực hiện những thay đổi mang tính hệ thống, với trọng tâm là đầu tư đồng bộ vào ba trụ cột then chốt.
Đầu tiên là đội ngũ giảng viên. Các cơ sở đào tạo cần có cơ chế “trải thảm đỏ”, bao gồm chính sách đãi ngộ đặc thù và môi trường làm việc có tính tự chủ cao, nhằm thu hút các giáo sư, tiến sĩ người Việt ở nước ngoài cũng như chuyên gia quốc tế về dẫn dắt những nhóm nghiên cứu mạnh.
Song song với đó, việc mời các kỹ sư trưởng, chuyên gia thiết kế từ các tập đoàn lớn như Intel, Samsung, Marvell hay FPT Semiconductor tham gia đồng hướng dẫn là hết sức cần thiết, bởi đây là lực lượng nắm giữ các bài toán công nghệ sát với nhu cầu thực tiễn của thị trường.
Đội ngũ giảng viên trong nước cũng cần được tạo điều kiện tham gia các chương trình tu nghiệp ngắn hạn tại những trung tâm bán dẫn hàng đầu như Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc hoặc Hoa Kỳ để cập nhật các công nghệ mới, từ FinFET, Chiplet cho đến thiết kế trên các tiến trình dưới 7nm.
Trụ cột thứ hai là hạ tầng và công cụ nghiên cứu. Các trường đại học cần đầu tư bản quyền các bộ công cụ thiết kế chuẩn công nghiệp như Cadence, Synopsys hay Siemens EDA, bởi thiếu những công cụ này, nghiên cứu sinh khó có thể thiết kế ra các sản phẩm chip có khả năng vận hành thực tế. Do chi phí xây dựng phòng sạch (cleanroom) rất lớn, mô hình phòng thí nghiệm dùng chung ở cấp quốc gia hoặc vùng được xem là giải pháp tối ưu, giúp chia sẻ nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Bên cạnh đó, việc trang bị các thiết bị đo kiểm tần số cao, kính hiển vi điện tử và hệ thống kiểm chứng sau gia công (tape-out) là điều kiện cần để nghiên cứu sinh đánh giá và hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu.
Cuối cùng là xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Các cơ sở giáo dục đại học cần đóng vai trò là đối tác nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp, trong đó các đề tài luận án tiến sĩ xuất phát từ “đơn đặt hàng” thực tiễn sẽ giúp nghiên cứu sinh có kinh phí, dữ liệu và bài toán cụ thể để triển khai nghiên cứu, đồng thời mở ra triển vọng nghề nghiệp rõ ràng sau khi tốt nghiệp.
Đặc biệt, cần có các quy định minh bạch về chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ đối với bằng sáng chế và thiết kế chip được tạo ra trong quá trình đào tạo tiến sĩ, qua đó khuyến khích tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo ngay trong môi trường đại học.
Cũng theo dự thảo, cơ sở đào tạo chỉ được tuyển nghiên cứu sinh khi có đề tài khoa học phù hợp với lĩnh vực vi mạch bán dẫn và nguồn tài chính đảm bảo. Bàn luận về vấn để này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quy đánh giá đây là quy định hợp lý, sát với nhu cầu thực tiễn.
Theo Trưởng khoa, khoa Vật liệu điện tử và linh kiện, Trường Vật liệu (Đại học Bách khoa Hà Nội), việc ưu tiên cho các giảng viên, nhà khoa học có đề tài, dự án nghiên cứu được quyền tuyển nghiên cứu sinh sẽ giúp gắn đào tạo tiến sĩ với hoạt động nghiên cứu thực chất, đồng thời tạo nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ cho các dự án khoa học - công nghệ.
Tuy nhiên, thầy Quy cũng lưu ý một số khó khăn có thể phát sinh, như thủ tục hành chính khi nghiên cứu sinh phải chuyển đổi giữa các đơn vị hoặc dự án khác nhau, gây mất thời gian. Đồng thời, nếu xác định đào tạo tiến sĩ là mục tiêu lâu dài thì cần có cơ chế ưu tiên để các giảng viên chủ động tiếp cận và xây dựng đề tài nghiên cứu ngay từ đầu, thay vì chỉ “có đề tài rồi mới có nghiên cứu sinh”.
“Các chính sách hỗ trợ toàn diện cho nghiên cứu sinh tiến sĩ trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn sẽ giúp mức độ gắn kết giữa đào tạo tiến sĩ và nhu cầu thực tiễn, đặc biệt là nhu cầu của doanh nghiệp, sẽ được nâng cao. Khi nghiên cứu sinh không còn áp lực về đời sống, có thể toàn tâm, toàn ý cho nghiên cứu, trách nhiệm và động lực phấn đấu sẽ tăng lên, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nghiên cứu khoa học và hiệu quả đóng góp cho sự phát triển của ngành bán dẫn trong nước”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quy nói thêm.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Quý khẳng định việc chỉ cho phép cơ sở đào tạo tuyển nghiên cứu sinh khi đã có đề tài khoa học phù hợp với lĩnh vực vi mạch bán dẫn là một bước điều chỉnh quan trọng, nhằm khắc phục những hạn chế mang tính hình thức trong hoạt động đào tạo tiến sĩ trước đây.
Đây được xem là một cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhưng hết sức cần thiết, qua đó buộc các trường phải chuẩn bị đầy đủ điều kiện nghiên cứu ngay từ đầu, bảo đảm đề tài luận án có tính thực chất, khả thi và gắn với nguồn lực cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của đào tạo tiến sĩ trong lĩnh vực bán dẫn.