Dự thảo Thông tư quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng nhận được sự quan tâm của đông đảo thầy cô. Trong đó, dự thảo đề xuất điều kiện, hình thức hợp đồng đối với nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu.
Theo các cơ sở giáo dục, việc này sẽ giúp các cơ sở giáo dục đại học chủ động hơn trong việc bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là ở những ngành, lĩnh vực chuyên sâu.
Giúp các cơ sở giáo dục ổn định đội ngũ, tận dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Trao đổi với Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Linh Huân, giảng viên Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, việc bổ sung quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu sẽ giúp các cơ sở giáo dục đại học tháo gỡ nhiều vướng mắc đang tồn tại trong thực tiễn.
Trước hết, quy định này giúp lấp khoảng trống pháp lý hiện nay, vì trước nay pháp luật mới chỉ có quy định tương đối rõ về nhà giáo thỉnh giảng theo Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Quy định về chế độ thỉnh giảng trong các cơ sở giáo dục và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về chế độ thỉnh giảng trong các cơ sở giáo dục Ban hành kèm theo Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Còn đối với nhà giáo sau khi nghỉ hưu tiếp tục làm việc toàn thời gian thì chưa có một khung pháp lý riêng, thống nhất.
Chính khoảng trống này đã khiến nhiều trường đại học gặp khó khăn khi muốn tiếp tục sử dụng các giảng viên đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn đủ sức khỏe, trình độ và kinh nghiệm. Sự vướng mắc này thể hiện ở việc xác định tư cách pháp lý, hình thức sử dụng, chế độ làm việc, trách nhiệm chuyên môn, cũng như cơ sở để phân công giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu và tham gia các hoạt động học thuật khác. Vì vậy, dự thảo lần này được xây dựng chính là để bổ sung cơ sở pháp lý cho nhóm nhà giáo này.
Bên cạnh đó, dự thảo còn giúp các cơ sở giáo dục đại học chủ động hơn trong việc bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt ở những ngành, lĩnh vực chuyên sâu đang trong bối cảnh thiếu hụt giảng viên giàu kinh nghiệm.
Đáng chú ý, dự thảo quy định việc sử dụng nhóm nhà giáo sau nghỉ hưu được đặt trong khuôn khổ hợp đồng lao động xác định thời hạn, gắn với các điều kiện về sức khỏe, trình độ chuyên môn, cũng như tuân thủ quy định của pháp luật lao động đối với người lao động cao tuổi. Điều này góp phần bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và phù hợp với thực tiễn triển khai
Một điểm quan trọng khác là quy định này góp phần chuẩn hóa và minh bạch hóa công tác quản trị đại học. Khi có căn cứ pháp lý cụ thể, nhà trường sẽ thuận lợi hơn trong việc ký kết hợp đồng, phân công nhiệm vụ, đánh giá mức độ hoàn thành công việc, chi trả chế độ, đồng thời có cơ sở để kiểm tra, giám sát và xử lý trách nhiệm nếu có vi phạm. Theo thông tin công bố về dự thảo, đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu lực kiểm định, bảo đảm chất lượng và tăng tính thực chất trong công tác hậu kiểm.
“Quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu có ý nghĩa rất thiết thực, vì không chỉ giải quyết khoảng trống pháp lý mà còn giúp các trường ổn định đội ngũ, tận dụng nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao hiệu quả quản trị, bảo đảm chất lượng đào tạo. Đây là một bước đi cần thiết, phù hợp với yêu cầu phát triển và tự chủ của giáo dục đại học hiện nay”, thầy Huân chia sẻ.
Đồng quan điểm, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Anh Thủy, Trưởng khoa Luật Trường Đại học Văn Lang, việc có quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu theo dự thảo phù hợp và có ý nghĩa tích cực đối với lĩnh vực giáo dục. Theo quy định hiện hành, đối tượng được kéo dài tuổi nghỉ hưu chủ yếu là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ hoặc nhà giáo trong các lĩnh vực chuyên sâu, đặc thù. Việc có quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu sẽ góp phần mở rộng phạm vi bao gồm tất cả đối tượng là nhà giáo, tạo điều kiện để những người giàu kinh nghiệm tiếp tục tham gia giảng dạy, nghiên cứu.
Thực tế cho thấy, nhiều nhà giáo sau khi nghỉ hưu vẫn còn đủ sức khỏe, chuyên môn vững vàng và kỹ năng sư phạm tốt. Khi đó, các trường đại học sẽ không chỉ tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn bảo đảm tính ổn định, liên tục trong hoạt động đào tạo, hạn chế xáo trộn về đội ngũ.
Với nhà giáo, họ sẽ có thêm thời gian tiếp tục đầu tư chuyên sâu vào công việc giảng dạy, nghiên cứu, phát huy kinh nghiệm và thế mạnh cá nhân. Có thể thấy, đây là chính sách mang lại lợi ích hài hòa cho nhiều phía. Cơ sở giáo dục có thêm nguồn nhân lực chất lượng cao, có chuyên môn sâu, có kỹ năng và phương pháp giảng dạy. Nhà giáo có cơ hội tiếp tục cống hiến, đào tạo nhân tài cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước.
Cũng theo thầy Thuỷ, dự thảo cho phép cơ sở giáo dục nào sử dụng nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu thì được sử dụng đội ngũ này như một nguồn lực để đánh giá năng lực của cơ sở là một điều thuận lợi có tác động tích cực đến các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục.
Bởi lẽ, về bản chất, đây vẫn là những nhà giáo đã đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực nghề nghiệp cũng như có trình độ. Họ có đầy đủ trình độ chuyên môn, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, cũng như kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu. Đặc biệt nếu nhà giáo đó có trình độ cao còn góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, sự hiện diện của những nhà giáo có uy tín này không chỉ tạo ra “hiệu ứng lan tỏa” về học thuật mà còn góp phần nâng cao năng lực, tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục.
Còn theo thầy Huân, quy định cho phép sử dụng đội ngũ nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu như một nguồn lực để đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục sẽ có tác động hai mặt đến việc tính toán các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo.
Trước hết, ở góc độ tích cực, quy định này giúp các cơ sở giáo dục đại học phản ánh đầy đủ và thực chất hơn nguồn lực đào tạo hiện có. Trên thực tế, nhiều nhà giáo sau khi nghỉ hưu vẫn tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu nhưng trước đây việc ghi nhận vai trò của họ trong các tiêu chí về đội ngũ (như tỷ lệ giảng viên, năng lực đào tạo, quy mô người học) còn chưa rõ ràng. Khi được pháp luật thừa nhận với tư cách là lực lượng làm việc toàn thời gian theo hợp đồng, nhóm này có thể được tính toán một cách chính danh. Qua đó góp phần nâng cao năng lực đào tạo và năng lực kiểm định của cơ sở giáo dục.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, quy định này cũng đặt ra yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm tính thực chất của chất lượng đào tạo. Nếu không có tiêu chí rõ ràng, có thể dẫn đến tình trạng tăng số lượng trên giấy để đáp ứng điều kiện kiểm định, trong khi mức độ tham gia thực tế của nhà giáo không tương xứng.
Vì vậy, việc tính toán cần gắn với các yếu tố như: Thời gian làm việc thực tế, khối lượng giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học, cũng như yêu cầu về sức khỏe, năng lực chuyên môn và khả năng cập nhật tri thức mới.
Như vậy, quy định này là một bước tiến tích cực nhưng để phát huy hiệu quả, cần đi kèm với các tiêu chí định lượng và cơ chế kiểm soát minh bạch, nhằm bảo đảm rằng việc ghi nhận đội ngũ này thực sự phản ánh đúng năng lực đào tạo của nhà trường, chứ không chỉ mang tính hình thức.
Cần làm rõ tiêu chí và cách thức tính đội ngũ này vào việc đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục
Theo Thạc sĩ Trần Linh Huân, khi có quy định cụ thể, việc xác định trách nhiệm pháp lý của nhóm nhà giáo này sẽ rõ hơn, nhất là ở chỗ dự thảo đã xác lập đây là quan hệ hợp đồng lao động xác định thời hạn. Từ đó, việc ký kết, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng đều có căn cứ áp dụng thống nhất theo pháp luật lao động.
Đồng thời, dự thảo cũng quy định tương đối rõ quyền của nhà giáo, trách nhiệm của nhà giáo và trách nhiệm của cơ sở giáo dục, nên trách nhiệm của mỗi bên sẽ không còn ở tình trạng thỏa thuận chung chung như trước mà được xác định bằng hợp đồng và bằng quy định pháp lý cụ thể.
Đối với thời gian làm việc, dự thảo làm rõ theo hướng áp dụng quy định của Bộ luật Lao động và chế độ làm việc của nhà giáo nghỉ hưu như nhà giáo cơ hữu. Như vậy, thời gian làm việc của nhà giáo sau khi nghỉ hưu sẽ không còn do từng trường tự vận dụng theo cách riêng mà có một khung pháp lý chung để thực hiện. Riêng trường hợp là người lao động cao tuổi, dự thảo cho phép các bên thỏa thuận trong hợp đồng về việc rút ngắn thời giờ làm việc hoặc bố trí thời gian làm việc phù hợp, nên vẫn bảo đảm được tính linh hoạt nhưng không làm mất đi tính pháp lý rõ ràng.
Về khối lượng giảng dạy, dự thảo làm rõ theo hướng: vì nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu được áp dụng chế độ làm việc như nhà giáo cơ hữu, nên việc phân công giảng dạy sẽ có căn cứ xác định cụ thể hơn theo chế độ làm việc của nhà giáo, theo vị trí việc làm và theo nội dung hợp đồng.
Mặt khác, dự thảo cũng xác định rõ họ được giảng dạy, tham gia xây dựng chương trình đào tạo, hướng dẫn, nhận xét, đánh giá người học; đồng thời cơ sở giáo dục có trách nhiệm quản lý và giám sát chất lượng. Điều đó có nghĩa là khối lượng giảng dạy không chỉ rõ hơn về số lượng công việc được giao mà còn rõ hơn về phạm vi nhiệm vụ chuyên môn và cơ sở để đánh giá việc thực hiện.
Còn đối với nghĩa vụ nghiên cứu khoa học, dự thảo làm rõ theo hướng gắn nhóm nhà giáo này với hoạt động học thuật chính thức của cơ sở giáo dục. Cụ thể, họ được tham gia sinh hoạt chuyên môn, được tạo điều kiện thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời phải bảo đảm chất lượng và thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định của pháp luật.
Đặt trong tổng thể với Luật Nhà giáo 2025, nghĩa vụ của nhà giáo còn bao gồm việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và áp dụng khoa học giáo dục, cập nhật kỹ năng và công nghệ mới. Nói cách khác, dự thảo đã làm rõ cơ sở pháp lý để giao và ràng buộc trách nhiệm nghiên cứu khoa học đối với nhóm này.
Cũng theo thầy Huân, dự thảo Thông tư đã đi đúng hướng, vì lần đầu tiên đặt ra khung pháp lý riêng cho nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu. Trong khi trước đây hệ thống pháp luật mới chủ yếu có quy định về chế độ thỉnh giảng tại Thông tư 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư 11/2013/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung.
Tuy nhiên, để các cơ sở giáo dục triển khai thuận lợi trong thực tế, dự thảo cần bổ sung hoặc làm rõ thêm một số điểm then chốt.
Một là, cần làm rõ tiêu chí và cách thức tính đội ngũ này vào việc đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục. Dự thảo cho phép cơ sở giáo dục sử dụng đội ngũ nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu như một nguồn lực để đánh giá năng lực của mình nhưng nếu không nói rõ họ được tính trong trường hợp nào, theo tiêu chí nào, theo tỷ lệ nào và cần những minh chứng gì, thì rất dễ dẫn đến tình trạng mỗi trường hiểu và áp dụng khác nhau. Đây là nội dung rất cần hướng dẫn cụ thể, nhất là trong mối liên hệ với các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, kiểm định chất lượng và xác định năng lực đào tạo của nhà trường.
Hai là, cần làm rõ thế nào là “toàn thời gian” trong trường hợp nhà giáo đã nghỉ hưu. Dự thảo hiện quy định thời giờ làm việc áp dụng theo Bộ luật Lao động và chế độ làm việc của nhà giáo như nhà giáo cơ hữu. Đồng thời cho phép, nếu là người lao động cao tuổi, thì có thể thỏa thuận rút ngắn thời giờ làm việc hoặc bố trí thời gian phù hợp. Vấn đề đặt ra là nếu đã được tính là “toàn thời gian” nhưng lại được rút ngắn thời giờ làm việc thì mức độ tham gia công việc sẽ được xác định ra sao, có được tính tương đương nhà giáo cơ hữu hay phải có cơ chế quy đổi.
Ba là, cần cụ thể hơn về hồ sơ, quy trình tuyển chọn và căn cứ đánh giá điều kiện của nhà giáo sau nghỉ hưu. Cần làm rõ hơn hồ sơ chứng minh sức khỏe, thời hạn hiệu lực của giấy khám sức khỏe, căn cứ xác nhận về kỷ luật, thẩm quyền tuyển chọn, cũng như giới hạn của “điều kiện khác” để tránh tình trạng mỗi cơ sở đặt ra tiêu chí riêng quá khác biệt.
Bốn là, cần làm rõ hơn chế độ tài chính và cơ chế bảo đảm quyền lợi để các trường dễ thực hiện. Dự thảo nên hướng dẫn rõ hơn nguyên tắc xác định mức chi trả, căn cứ thanh toán theo nhiệm vụ, cũng như trách nhiệm của nhà trường trong việc bảo đảm điều kiện làm việc, để việc thực hiện được thống nhất và minh bạch.
Năm là, nên bổ sung cơ chế đánh giá định kỳ và chấm dứt hợp đồng trong những trường hợp cần thiết. Dự thảo cho phép ký hợp đồng lao động xác định thời hạn và không giới hạn tuổi cao nhất nhưng đồng thời lại đặt ra yêu cầu về sức khỏe và chất lượng thực hiện nhiệm vụ.
Vì vậy, nên quy định rõ hơn về việc đánh giá định kỳ theo năm học hoặc theo học kỳ, nhất là đối với sức khỏe, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và khả năng đáp ứng yêu cầu chuyên môn. Quy định như vậy sẽ giúp bảo đảm chất lượng đào tạo, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho nhà trường khi tiếp tục hay chấm dứt hợp đồng.
Còn theo thầy Thuỷ, dự thảo đã quy định nhiều nội dung quan trọng như điều kiện, hình thức hợp đồng, thời giờ làm việc, chế độ, quyền và trách nhiệm của các bên.
Tuy nhiên, nếu chỉ có một hình thức hợp đồng toàn thời gian thì cũng có những hạn chế. Do đó, sẽ tốt hơn nếu có những hình thức hợp đồng làm việc đa dạng như khoán sản phẩm nghiên cứu khoa học, công việc… với nhà giáo đã nghỉ hưu. Đồng thời, cần đảm bảo sự hài hòa giữa việc sử dụng nguồn lực kinh nghiệm và tạo cơ hội phát triển cho đội ngũ giáo viên trẻ.