Vừa qua, Trường Trung học phổ thông Chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) và Trường Trung học phổ thông Chuyên Khoa học tự nhiên (Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027.
Trong đó, đề thi môn Ngữ văn của cả hai đơn vị đều đang nhận được nhiều sự quan tâm liên quan đến cách ra đề, mức độ phân loại thí sinh cũng như ranh giới giữa tư duy mở và độ khó phù hợp với học sinh trung học cơ sở.
Giáo viên băn khoăn về đề thi môn Ngữ văn của Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn
Nhận xét về đề thi môn Ngữ văn (chung) của Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Đỗ Thị Thúy Dương - Tổ phó Tổ Văn, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn (phường Phước Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh) bày tỏ: "Nhìn chung, đề thi xoay quanh một ngữ liệu ngắn sẽ giúp học sinh chỉ cần tập trung đọc một văn bản nhưng đây cũng sẽ là thách thức trong việc thiết kế câu hỏi sao cho không trùng lặp và giàu chất văn. Ban ra đề đã rất nỗ lực để định hình một đề thi có cấu tứ, có sự phát triển. Đáng tiếc đề thi tồn tại một số vấn đề cơ bản liên quan tới tính vừa sức và thuật ngữ lý luận".
Cô Dương phân tích cụ thể, với phần Đọc hiểu, tổng thể cả 4 câu hỏi, dù ở mức độ nhận biết, thông hiểu hay vận dụng đều không đi vào chi tiết nhỏ lẻ mà buộc học sinh phải đọc tổng thể văn bản mới có thể trả lời. Vì vậy, độ khó cao hơn các đề thi đọc hiểu thông thường dành cho học sinh lớp 9.
Bốn đối tượng đọc hiểu (thể thơ, nhạc tính, nhân vật trữ tình, giọng) đều là các phương diện đặc trưng của thơ. Đề thi bước đầu đảm bảo yêu cầu kiểm tra về thể loại theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. Dù vậy, một đề đọc hiểu không chỉ đúng mà còn phải trúng. Vấn đề cần xem xét tiếp theo là liệu những đối tượng đọc hiểu kể trên có đích thực là các yếu tố tạo nên cái hay của văn bản không?
Theo Quyết định số 1549/QĐ-XHNV (ngày 20/03/2026) do Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) ban hành, quy định về dạng thức đề thi tuyển sinh lớp 10 vào Trường Trung học phổ thông Chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn, có nêu phần Đọc hiểu bao gồm từ 3 đến 5 câu hỏi, kiểm tra các kĩ năng đọc hiểu văn bản, tổ chức theo mức độ từ dễ đến khó, từ mức độ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng.
Ở câu 2 đề cập tới nhạc tính trong văn bản thơ, không rõ quy chiếu là câu nhận biết hay thông hiểu. Mặt khác, về lý luận, nhạc tính trong thơ thường được tạo nên từ các yếu tố hình thức (vần, nhịp, thanh) nhưng nhiều quan điểm cũng cho rằng nhạc tính còn được thiết lập từ nội dung, là nhạc điệu tâm hồn, tức nhạc ở chiều sâu. Trong khi đó từ “kiến tạo” là cách dùng có phần hoa mĩ, chưa thực sự phù hợp với đề đọc hiểu thông thường dù không ảnh hưởng tới bản chất câu hỏi.
Với câu 3, theo phổ chung của giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông và các giáo trình, từ điển lý luận, “nhân vật trữ tình” có thể hiểu là hình tượng con người bộc lộ cảm xúc trong tác phẩm trữ tình. Trong khi đó “em gái tiền phương” không phải hình tượng con người bộc lộ cảm xúc trong văn bản này. Lệnh hỏi “nêu hiểu biết” tương đối mơ hồ. Có lẽ cách diễn đạt quen thuộc hơn là "Nêu cách hiểu về…/; Anh/chị hiểu như thế nào về" sẽ giúp định dạng yêu cầu rõ hơn.
Câu 4 của đề có cách hỏi tường minh nhưng các khái niệm “giọng tự sự, trữ tình và kịch” có phần xa lạ với học sinh. Giọng thơ thường được đặc tính hóa bằng các tính từ như thiết tha, nhẹ nhàng… Giọng tự sự, giọng trữ tình, giọng kịch dường như đã gắn cả phương thức biểu đạt và thể loại văn bản, gợi sự giao thoa, xâm nhập thể loại.
Ý đồ và ý tưởng từ nền tảng lý luận tương đối thú vị nhưng việc đặt ra các khái niệm (nhất là đây chỉ là đề môn Ngữ văn chung, chưa phải đề môn Ngữ văn chuyên) chưa thực sự hợp lý. Cùng với đó, soi vào văn bản, nếu định hình cấu trúc đối thoại một chiều - nhân vật trữ tình ẩn nói với “em” thành giọng kịch sẽ có phần khiên cưỡng.
Phân tích các câu hỏi ở phần Viết, Thạc sĩ Đỗ Thị Thúy Dương chỉ ra: "Lệnh hỏi ở cả hai câu không rõ yêu cầu viết đoạn hay viết bài. Tuy nhiên, Quyết định số 1549/QĐ-XHNV có ghi cả hai yêu cầu viết đoạn, viết bài và thực tế đề thi cũng nêu số điểm nên không học sinh đa phần sẽ không nhầm lẫn.
Câu 1 (2.0 điểm) có ý kiến cho là trùng ý ở phần đọc hiểu là chưa hoàn toàn hợp lý. Vì phần đọc hiểu chỉ hỏi về em gái tiền phương trong khi đoạn trích này còn bao hàm cả hình ảnh đoàn quân. Đọc hiểu chỉ yêu cầu hiểu, chỉ ra đặc điểm của hình tượng em gái tiền phương; còn yêu cầu viết cần phải phân tích cả nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ (mà đặc điểm của em gái tiền phương chỉ là một phương diện). Việc học sinh giải quyết được phần đọc hiểu để làm cơ sở cho phần viết là một tiến trình hợp lý về tư duy và khoa học đề thi".
Cùng nhận xét về đề thi này, một thạc sĩ, giáo viên môn Ngữ văn tại Hà Nội cho biết, đề thi có định hướng tiếp cận theo hướng đánh giá năng lực đọc hiểu và tư duy cảm thụ của học sinh thay vì yêu cầu học thuộc máy móc. Việc lựa chọn bài thơ "Lá đỏ" của Nguyễn Đình Thi là ngữ liệu giàu cảm xúc, có giá trị nghệ thuật và phù hợp với tinh thần giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng sống cho học sinh. Một số câu hỏi cũng hướng tới việc kiểm tra khả năng phân tích hình tượng thơ và liên hệ ý nghĩa cuộc sống, thể hiện tinh thần đổi mới của đề thi môn Ngữ văn hiện nay.
Mặc dù vậy, đề thi còn tồn tại nhiều hạn chế. Trước hết, việc sử dụng ngữ liệu đã có trong sách giáo khoa đi ngược với định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, vốn khuyến khích sử dụng văn bản ngoài sách giáo khoa để đảm bảo công bằng và đánh giá đúng năng lực đọc hiểu của học sinh. Điều này có thể tạo lợi thế cho những học sinh đã học đúng bộ sách chứa văn bản trên.
Bên cạnh đó, một số câu hỏi bị phản ánh sai kiến thức chuyên môn cơ bản. Ở câu 3 phần Đọc hiểu, việc xác định “em gái tiền phương” là “nhân vật trữ tình” chưa chính xác về mặt lý luận văn học. Theo đặc trưng thể loại thơ trữ tình, “nhân vật trữ tình” phải là chủ thể trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ; còn trong trường hợp này, “em gái tiền phương” phù hợp hơn với khái niệm “đối tượng trữ tình”. Sai sót này dễ khiến học sinh hiểu lệch bản chất kiến thức và gây tranh cãi trong quá trình chấm thi.
Ngoài ra, một số yêu cầu nghị luận, liên hệ trong đề còn mang tính gán ghép và thiếu tự nhiên, khiến học sinh khó xác định đúng trọng tâm cần triển khai.
“Theo tôi, với một đề thi tuyển sinh có tính phân hóa năng lực học sinh cao, yếu tố sáng tạo là cần thiết nhưng phải đặt trên nền tảng chuẩn xác về kiến thức và ngôn ngữ học. Đề thi nên được phản biện chuyên môn kỹ lưỡng hơn trước khi đưa vào sử dụng để tránh ảnh hưởng đến tâm lý và quyền lợi của thí sinh” - giáo viên này bày tỏ.
Đề thi môn Ngữ văn của Trường Trung học phổ thông Chuyên Khoa học tự nhiên cũng gây tranh cãi
Với đề thi môn Ngữ văn của Trường Trung học phổ thông Chuyên Khoa học tự nhiên, Thạc sĩ Đỗ Thị Thúy Dương nhận định, đề thi không có quá nhiều vấn đề. Hai câu hỏi gây tranh cãi là câu 1 và câu 3 ở phần Trắc nghiệm đều thuộc về dạng hỏi quen thuộc của các kỳ kiểm tra đánh giá năng lực. Học sinh khi tham gia chắc chắn cũng đã ôn tập và không gặp nhiều khó khăn.
Dù không có từ điển tra cứu, các em sẽ dựa trên nét nghĩa thông dụng, phổ biến và các kiến thức thông thường được dạy ở trung học cơ sở để xác định đáp án.
Dưới góc nhìn của vị Thạc sĩ, giáo viên môn Ngữ văn công tác tại Hà Nội, đề thi có điểm đáng ghi nhận ở tính mới mẻ và khả năng phân hóa năng lực học sinh từ nhận biết - thông hiểu - vận dụng và vận dụng cao. Cách đặt câu hỏi hướng đến việc kiểm tra năng lực đọc hiểu, tư duy ngôn ngữ và khả năng lập luận thay vì chỉ yêu cầu học thuộc kiến thức.
Điều này phù hợp với định hướng đổi mới của môn Ngữ văn hiện nay, khi người học cần biết phân tích, suy luận và vận dụng kiến thức vào ngữ cảnh cụ thể. Ngoài ra, việc đề thi tạo ra nhiều luồng tranh luận cũng cho thấy câu hỏi có tính gợi mở, kích thích tư duy phản biện và sự quan tâm học thuật từ học sinh.
Bên cạnh đó, đề thi vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Một số câu hỏi có cách diễn đạt chưa thật sự chặt chẽ, khiến các đáp án dễ tạo ra sự nhầm lẫn về nghĩa và tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau. Với một bài thi tuyển sinh, đặc biệt ở dạng trắc nghiệm, đáp án cần có tính chính xác và rõ ràng để đảm bảo công bằng cho thí sinh. Nếu học sinh có thể dùng lý lẽ hợp lý để bảo vệ hơn một phương án thì câu hỏi đó chưa đạt độ chuẩn cần thiết.
Đồng thời, việc đề thi gây tranh cãi lớn sau khi công bố cũng phần nào cho thấy khâu rà soát, phản biện đề trước khi sử dụng cần được thực hiện kỹ lưỡng hơn để tránh ảnh hưởng đến tâm lý và quyền lợi của học sinh.
Đi vào phân tích, giáo viên này chỉ ra, câu 1 hỏi từ nào trái nghĩa với "tinh anh” tưởng chừng đơn giản nhưng thực tế lại có độ mở về nghĩa tương đối lớn. “Tinh anh” không chỉ mang nghĩa thông minh, lanh lợi mà còn hàm ý sự tinh túy, ưu tú.
Vì vậy, nếu các đáp án chưa thật sự đối lập trực tiếp về sắc thái nghĩa thì học sinh dễ suy luận theo nhiều hướng khác nhau. Điều này khiến câu hỏi thiếu tính rõ ràng cần có của dạng câu hỏi trắc nghiệm. Để đảm bảo tính chính xác và công bằng, câu hỏi cần đặt trong ngữ cảnh cụ thể hoặc lựa chọn hệ thống đáp án có mức độ phân hóa rõ ràng hơn.
Với câu 3, yêu cầu phân biệt tục ngữ và thành ngữ là dạng kiến thức cơ bản nhưng dễ gây nhầm lẫn đối với học sinh nếu không được đặt trong ngữ cảnh cụ thể. Các phương án trong đề đều là những tổ hợp ngôn ngữ quen thuộc, mang màu sắc dân gian nên học sinh có thể khó nhận diện ranh giới giữa hai khái niệm.
Về mặt chuyên môn, “Uống nước nhớ nguồn” được xem là tục ngữ vì chứa đựng một bài học, lời khuyên mang tính hoàn chỉnh về nội dung; trong khi các phương án còn lại chủ yếu là thành ngữ biểu thị trạng thái hoặc đặc điểm sự việc. Cách xây dựng đáp án có độ tương đồng cao dễ khiến học sinh lựa chọn theo cảm tính thay vì dựa trên bản chất ngôn ngữ học. Vì vậy, đề thi nên có cách hỏi hoặc hệ thống ngữ liệu rõ hơn để vừa đảm bảo tính phân hóa, vừa tránh gây tranh cãi không cần thiết.
Nhà trường phản hồi như thế nào?
Đề cập đến những tranh luận xoay quanh đề thi tuyển sinh, trao đổi với phóng viên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Liệu - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn cho hay, đề thi có nội dung kiến thức cơ bản và có sự phân hóa cao. Với đề thi này chắc chắn nhà trường sẽ tìm được những nhân tố mới.
Ở góc độ chuyên môn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thùy, giảng viên cao cấp Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định đề thi năm nay có tính phân loại rõ nét, thể hiện đúng tinh thần của kỳ thi tuyển sinh vào trường chuyên: mở, giàu tính học thuật và khuyến khích tư duy độc lập của thí sinh.
Về ý kiến tranh luận xoay quanh cách hiểu “em gái tiền phương” cô Thùy giải thích, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, nhân vật trữ tình chỉ là chủ thể phát ngôn thì cách xác định “em gái tiền phương” là đối tượng trữ tình có cơ sở. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, nhân vật trữ tình bao gồm cả người nói (người truyền tải thông tin) và người nghe (người tiếp nhận thông tin) vẫn có thể chấp nhận.
Từ góc độ phân tích diễn ngôn (trong đó có phân tích hội thoại), nhân vật giao tiếp không chỉ gồm người nói mà còn có người nghe; hoạt động giao tiếp cũng có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như đơn thoại, song thoại hay đa thoại (trong đó có cả tính đa thanh). Vì vậy, việc học sinh tiếp cận khái niệm “nhân vật trữ tình” theo hướng mở, không máy móc là điều phù hợp với tinh thần của một đề thi chuyên.
Với câu 4, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thùy cho rằng việc học sinh phát hiện yếu tố kịch bên cạnh giọng điệu tự sự và trữ tình là một hướng tiếp cận sáng tạo. Tác phẩm "Lá đỏ" từng được chuyển thể thành nhạc kịch nên khi đọc, học sinh hoàn toàn có thể nhận ra sắc thái kịch, tính chất kịch trong cấu trúc đối thoại, nhịp điệu và cảm xúc. Đây cũng là dạng câu hỏi có khả năng phân loại tốt: học sinh ở mức cơ bản có thể nhận diện chất tự sự, trữ tình, trong khi đó, học sinh có chiều sâu tư duy sẽ nhận diện và phân tích được thêm về tính kịch của văn bản.