Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng là cơ sở giáo dục đại học đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ. Đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, góp phần phục vụ phát triển bền vững kinh tế, xã hội khu vực miền Trung - Tây Nguyên, cũng như trên phạm vi cả nước và quốc tế.
Theo thông tin trên website, tầm nhìn đến năm 2035, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng hướng tới trở thành trường đại học nghiên cứu được cộng đồng quốc tế ghi nhận, chủ động hợp tác toàn cầu nhằm giải quyết các thách thức kinh tế, xã hội trong nước và trên thế giới.
Trong bối cảnh mùa tuyển sinh năm 2026 cận kề, nhu cầu tìm hiểu về ngành học và chương trình đào tạo của phụ huynh, học sinh trung học phổ thông ngày càng gia tăng. Đáng chú ý, các chương trình hợp tác quốc tế đang thu hút sự quan tâm nhờ mở ra cơ hội học tập, làm việc trong môi trường toàn cầu.
Được biết, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng hiện triển khai đa dạng các chương trình đào tạo, bên cạnh hệ đại trà còn có nhiều chương trình chất lượng cao và hợp tác quốc tế. Cụ thể, nhà trường tuyển sinh Chương trình Kỹ sư chất lượng cao Việt – Pháp (PFIEV) với các ngành Sản xuất tự động, Tin học công nghiệp, Công nghệ phần mềm; Chương trình tiên tiến Việt – Mỹ ngành Điện tử viễn thông và Chương trình tiên tiến Việt – Mỹ chuyên ngành Hệ thống nhúng và IoT thuộc ngành Kỹ thuật điện, điện tử.
Để thí sinh, phụ huynh hiểu rõ hơn về nội dung đào tạo, cơ hội học tập cũng như triển vọng nghề nghiệp từ các chương trình này, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã liên hệ với nhà trường để tìm hiểu chi tiết.
Chương trình hợp tác quốc tế không phải chương trình liên kết quốc tế
Trao đổi với phóng viên, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng cho biết: Chương trình liên kết quốc tế là mô hình đào tạo được triển khai trên cơ sở hợp tác giữa các trường đại học trong nước và các cơ sở giáo dục uy tín ở nước ngoài, trong đó yêu cầu đồng cấp bằng và phải đáp ứng các điều kiện ràng buộc về tổ chức đào tạo.
Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng hiện đang triển khai các chương trình theo hướng hợp tác quốc tế. Cụ thể, Chương trình Kỹ sư chất lượng cao Việt – Pháp (PFIEV) được hình thành trên cơ sở hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Pháp, đào tạo các ngành Sản xuất tự động, Tin học công nghiệp, Công nghệ phần mềm.
Bên cạnh đó, nhà trường còn triển khai Chương trình tiên tiến Việt – Mỹ ngành Điện tử viễn thông và Chương trình tiên tiến Việt – Mỹ chuyên ngành Hệ thống nhúng và IoT thuộc ngành Kỹ thuật điện, điện tử. Các chương trình này được xây dựng và phát triển trên nền tảng chương trình đào tạo của các trường đại học tại Mỹ, nhằm tiệm cận chuẩn quốc tế và từng bước nhân rộng mô hình đào tạo tiên tiến.
Về công tác kiểm định chất lượng giáo dục, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải thông tin, nhà trường không chỉ thực hiện kiểm định đối với các chương trình hợp tác quốc tế mà còn triển khai đánh giá chất lượng ở nhiều chương trình đào tạo khác.
Cụ thể, 3 chương trình Kỹ sư chất lượng cao Việt – Pháp (PFIEV) đã được kiểm định bởi Ủy ban bằng Kỹ sư Cộng hòa Pháp (CTI) qua nhiều chu kỳ, trong đó có chương trình đã trải qua tới 4 lần kiểm định.
Đối với các chương trình tiên tiến Việt – Mỹ, nhà trường thực hiện kiểm định theo tiêu chuẩn của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA), nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo tiệm cận chuẩn khu vực và quốc tế.
Về tổ chức đào tạo, thầy Hải phân tích các chương trình hợp tác quốc tế có nhiều điểm khác biệt so với chương trình đại trà. Trước đây, chương trình PFIEV được xây dựng hoàn toàn theo khung đào tạo của Pháp, với khối lượng học tập lớn hơn và được quy đổi theo hệ tín chỉ của nước này.
Hiện nay, sự khác biệt vẫn thể hiện rõ ở quy mô tín chỉ. Nếu chương trình kỹ sư chuẩn của nhà trường có khoảng 180 tín chỉ thì chương trình PFIEV lên tới 200 tín chỉ. Trong đó, ngoài 180 tín chỉ theo chương trình tiêu chuẩn, sinh viên còn học thêm 20 tín chỉ được thiết kế theo định hướng đào tạo của Pháp.
Bên cạnh đó, chương trình PFIEV được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa 4 trường tham gia triển khai tại Việt Nam, bao gồm Đại học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng và Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời có sự tham gia góp ý của các cơ sở đào tạo uy tín, trong đó có các trường hàng đầu của Pháp, nhằm bảo đảm chất lượng và tiệm cận chuẩn quốc tế.
Đối với chương trình này, sinh viên được phân chia chuyên ngành từ năm thứ hai và có thể linh hoạt luân chuyển giữa 4 trường tham gia đào tạo tùy theo nguyện vọng. Chẳng hạn, sinh viên đang học tại Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng có thể chuyển tiếp một giai đoạn học tập tại Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình đào tạo, hằng năm nhà trường đều có các suất học bổng hỗ trợ sinh viên sang Pháp thực tập hoặc làm đồ án tốt nghiệp. Đặc biệt, nếu sinh viên bảo vệ thành công trước hội đồng kỹ sư của cả phía Việt Nam và Pháp, đồng thời đáp ứng chuẩn đầu ra về ngoại ngữ (tiếng Anh và tiếng Pháp trình độ tối thiểu B1), ngoài bằng tốt nghiệp của nhà trường, sinh viên còn được cấp thêm phụ lục văn bằng từ phía Pháp.
Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ, thầy Hải đánh giá cơ hội việc làm của sinh viên theo đuổi các ngành kỹ thuật là rất lớn. Thực tế cho thấy, chất lượng sinh viên của trường luôn được duy trì ở mức cao, qua đó mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp tích cực ngay sau khi tốt nghiệp.
Đáng chú ý, không ít sinh viên sau khi hoàn thành chương trình đã tiếp tục sang Pháp học tập và nghiên cứu ở bậc tiến sĩ. Với phụ lục văn bằng đi kèm, sinh viên có thể được các trường thuộc hệ thống PFIEV tại Pháp chấp nhận cho học thẳng lên tiến sĩ mà không cần qua bậc thạc sĩ.
Vì sao điểm chuẩn chương trình hợp tác quốc tế thấp hơn chương trình đại trà?
Trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu theo học các chương trình đào tạo có yếu tố quốc tế ngày càng gia tăng, kéo theo xu hướng mở rộng quy mô tại nhiều cơ sở giáo dục đại học.
Trao đổi về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho biết, những năm gần đây, chỉ tiêu tuyển sinh chương trình PFIEV được nhà trường duy trì ổn định ở mức 100–120 sinh viên mỗi năm. Từ năm thứ hai, sinh viên được phân ngành, với quy mô khoảng 30-40 sinh viên cho mỗi chuyên ngành.
Trong thời gian tới, nhà trường chưa có kế hoạch tăng chỉ tiêu tuyển sinh, nhằm bảo đảm quy mô đào tạo phù hợp với năng lực và duy trì chất lượng.
Về học phí, thầy Hải cũng cho biết chương trình PFIEV tại trường hiện có mức thu thấp hơn đáng kể so với nhiều chương trình đào tạo khác, dao động khoảng 26,3 triệu đồng/năm.
Cụ thể, theo thông tin tuyển sinh Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng năm 2025, mức học phí năm học 2025 - 2026 đối với nhóm ngành 1 bao gồm các ngành: Kỹ thuật Tàu thủy, Kỹ thuật Môi trường, Xây dựng Công trình Thủy, Xây dựng Công trình Giao thông, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Cơ sở Hạ tầng, Kỹ thuật hệ thống công nghiệp, Công nghệ kỹ thuật vật liệu xây dựng, Kỹ thuật xây dựng chuyên ngành Kỹ thuật và quản lý xây dựng đô thị thông minh) là 25,9 triệu đồng/năm.
Nhóm ngành 2 bao gồm các ngành học còn lại áp dụng mức học phí 30,8 triệu đồng/năm. Đối với chương trình tiên tiến Việt – Mỹ có mức học phí khoảng 36,2 triệu đồng/năm.
Liên quan đến tổ chức đào tạo, thầy Hải thông tin các chương trình có sự tham gia của giảng viên, chuyên gia từ phía đối tác quốc tế, đặc biệt là các trường của Pháp, trong vai trò tham gia hội đồng bảo vệ và hướng dẫn nghiên cứu.
Tuy nhiên, hoạt động giảng dạy trực tiếp vẫn chủ yếu do giảng viên của nhà trường đảm nhiệm.
Theo công bố điểm chuẩn năm 2025 của Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng, các ngành học trong chương trình hợp tác quốc tế nhìn chung có mức điểm thấp hơn so với chương trình đại trà. Cụ thể, chương trình tiên tiến Việt – Mỹ ngành Điện tử viễn thông đạt 23,09 điểm; trong khi ngành Kỹ thuật Điện tử – Viễn thông (chương trình đại trà) có điểm chuẩn 24,65 và chuyên ngành Vi điện tử – Thiết kế vi mạch lên tới 27 điểm.
Lý giải về sự chênh lệch này, thầy Hải cho biết điểm chuẩn chỉ phản ánh đúng mức điểm thấp nhất của thí sinh trúng tuyển, trong khi phần lớn thí sinh có điểm cao hơn mức này.
Bên cạnh đó, nguyên nhân chính khiến chương trình hợp tác quốc tế có điểm chuẩn thấp hơn là do yêu cầu ngoại ngữ cao hơn đáng kể. Đặc biệt, các chương trình tiên tiến được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, đòi hỏi thí sinh phải có nền tảng ngoại ngữ tốt.
“Đây là rào cản không nhỏ, nhất là đối với học sinh khối kỹ thuật – nhóm thí sinh thường không có nhiều lợi thế về tiếng Anh”, thầy Hải nhận định.
Thứ hai, với chương trình PFIEV, dù giảng dạy bằng tiếng Việt nhưng sinh viên phải học thêm tiếng Pháp. Trong bối cảnh tiếng Pháp chưa phổ biến trong chương trình phổ thông, yêu cầu này phần nào làm giảm sức hút đối với thí sinh.
Thứ ba, chất lượng đầu vào ngoại ngữ của thí sinh những năm gần đây đã được cải thiện, song vẫn có sự phân hóa giữa các chương trình đào tạo. Những ngành học “hot”, có tính chuyên sâu cao trong cùng lĩnh vực vẫn thu hút thí sinh có năng lực tốt hơn, từ đó tạo ra khoảng cách điểm chuẩn rõ rệt.
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và sức cạnh tranh trong tuyển sinh, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm cải thiện chất lượng đầu vào.
Phó Hiệu trưởng nhà trường cho biết, những năm gần đây, chất lượng đầu vào của trường liên tục được cải thiện, thể hiện qua số lượng thí sinh đăng ký và mức độ cạnh tranh ngày càng cao.
Để duy trì và nâng cao xu hướng này, nhà trường tập trung rà soát, cập nhật và cải tiến chương trình đào tạo một cách chặt chẽ, bảo đảm nội dung giảng dạy bám sát yêu cầu thực tiễn và xu hướng của thị trường lao động. Đồng thời, hệ thống cố vấn học tập được tăng cường nhằm hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập và định hướng nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, nhà trường đẩy mạnh kết nối, tương tác với phụ huynh nhằm tăng cường sự đồng hành trong quản lý và hỗ trợ sinh viên. Trong thời gian tới, việc mở rộng hợp tác quốc tế được xác định là một trọng tâm, qua đó tạo điều kiện mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Về hợp tác quốc tế, thầy Hải cho biết Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng đã tích cực triển khai và ký kết với nhiều đối tác nước ngoài. Đơn vị đã tiến hành rà soát, đánh giá hiệu quả các chương trình hợp tác, ưu tiên duy trì và phát triển quan hệ với các trường đại học có thứ hạng cao, thuộc nhóm top 200–500 thế giới.
Bên cạnh các chương trình đào tạo đại trà, nhà trường cũng đẩy mạnh các mô hình hợp tác quốc tế linh hoạt như 2+2, 2+1, tạo thêm cơ hội học tập và trải nghiệm quốc tế cho sinh viên.
Đồng thời, nhà trường cũng tiếp nhận sinh viên quốc tế đến học tập, góp phần đa dạng hóa môi trường đào tạo và tăng cường giao lưu học thuật.
Đánh giá về những thuận lợi và thách thức của nhà trường trong hoạt động này, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhìn nhận nhà trường có những thuận lợi nhất định khi là đơn vị thành viên của Đại học Đà Nẵng, qua đó thu hút được sự quan tâm và chủ động hợp tác từ nhiều đối tác quốc tế.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là hạn chế về kinh phí, khiến hoạt động hợp tác phần nào vẫn phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ phía đối tác. Trong thời gian tới, nhà trường kỳ vọng sẽ có thêm nguồn lực để chủ động hơn, qua đó nâng cao hiệu quả và chiều sâu của các chương trình hợp tác quốc tế.