Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam góp ý dự thảo Chuẩn cơ sở giáo dục đại học

01/07/2026 11:21
Thùy Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Ngày 30/6, Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam có văn bản gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về dự thảo lần 2 Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các cơ sở giáo dục đại học là thành viên của Hiệp hội.

Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam cho biết, Hiệp hội đồng thuận với dự thảo về Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học với Khung 6 tiêu chuẩn, 20 tiêu chí. Việc ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học phù hợp với sự phát triển mới của các cơ sở giáo dục đại học trong thời đại công nghệ số. Dự thảo Thông tư đã có những thay đổi trong cách tiếp cận từ việc đếm số lượng sang đo lường hiệu quả sử dụng; chú trọng tính đặc thù của từng khối ngành và mở rộng quyền tự chủ tài chính và vận hành đến các cơ sở giáo dục đại học.

1-939.jpg
Ảnh minh họa: UED

Để Thông tư ban hành có tính khả thi cao, phù hợp với thực tiễn hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học và thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện, Hiệp hội có một số ý kiến đóng góp như sau:

Điều 2 - Giải thích từ ngữ:

Khoản 4 và Khoản 5: Định nghĩa về “Giảng viên” và “Giảng viên cơ hữu”, chưa có định nghĩa về "Giảng viên toàn thời gian"

Khoản 7: Diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo là tổng diện tích sàn xây dựng thuộc quyền sở hữu của cơ sở giáo dục đại học hoặc thuộc quyền sở hữu của cơ quan chủ quản nhưng được cơ quan chủ quản quyết định giao quyền sử dụng hợp pháp cho cơ sở giáo dục đại học để phục vụ trực tiếp các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.

Kiến nghị: Hiện dự thảo Thông tư chỉ tính diện tích sàn xây dựng thuộc quyền sở hữu của cơ sở giáo dục đại học hoặc của cơ quan chủ quản giao. Kiến nghị xem xét bổ sung diện tích thuê.

Tên gọi của “Trung tâm học liệu” chưa bao quát hết nội hàm hoạt động của thư viện đại học; Nên gọi chung là “Thư viện đại học”.

Điều 6. Các tiêu chuẩn, tiêu chí:

Tiêu chuẩn 1 - Tổ chức và quản trị

a) Bảng 1A - 19 nội dung quản trị nội bộ bắt buộc (trong Mục: Các biểu mẫu số liệu)

Bảng 1A yêu cầu ban hành đầy đủ 19 nội dung quản trị nội bộ, trong đó có nhiều nội dung mới như:

Quy định về quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ

Quy định về chuyển đổi số

Quy định về quản lý dữ liệu

Kiến nghị: Bổ sung điều khoản chuyển tiếp ít nhất 12-18 tháng để các cơ sở GDĐH tư thục quy mô vừa và nhỏ hoàn thiện hệ thống văn bản.

b) Tiêu chí 1.2 - KPI chiến lược

Nếu cơ sở giáo dục đại học chưa ban hành chiến lược, hoặc chưa triển khai KPI, tỷ lệ tự động bằng 0%, nghĩa là không đáp ứng chuẩn ngay từ đầu, bất kể các điều kiện khác có đạt hay không.

Kiến nghị: Cần quy định rõ cơ chế xử lý cho cơ sở GDĐH đang trong giai đoạn xây dựng chiến lược lần đầu (ví dụ: áp dụng tiêu chí này từ năm thứ 2 sau khi ban hành chiến lược).

Về cải thiện KPI:

Dự thảo Thông tư quy định các cơ sở giáo dục đại học phải bảo đảm “hằng năm có ít nhất 50% các chỉ số hoạt động chính được cải thiện”. Quy định này chưa sát với thực tế, đặc biệt là ở các cơ sở giáo dục đại học top đầu, hoặc các chỉ số đã đạt ngưỡng tối ưu.

Nếu tỷ lệ việc làm của cơ sở giáo dục đại học đã đạt 98% hoặc tỷ lệ hài lòng đạt 99%, việc bắt buộc năm sau phải cải thiện cao hơn năm trước là điều chưa phù hợp, rất khó; quy định này dễ dẫn đến bệnh thành tích, hoặc các cơ sở giáo dục đại học đặt mục tiêu KPI năm đầu thật thấp để dễ dàng báo cáo có cải thiện vào các năm sau. Trong thực tiễn quản trị đại học, nhiều chỉ số sau khi đã đạt hoặc vượt mục tiêu chiến lược sẽ được duy trì ở mức ổn định để bảo đảm chất lượng và tính bền vững, thay vì tiếp tục tăng qua từng năm. Vì vậy, nên cho phép các chỉ số đã đạt ngưỡng mục tiêu hoặc đạt mức cao theo chiến lược phát triển được tính là đáp ứng yêu cầu nếu tiếp tục được duy trì ổn định, không bắt buộc phải có xu hướng tăng hằng năm. Quy định này sẽ phản ánh đúng bản chất của quản trị chiến lược.

Các KPI chính: nên theo hướng mở, cho phép cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn, điều chỉnh hoặc bổ sung một số KPI phù hợp với sứ mạng, tầm nhìn, mục tiêu chiến lược, mô hình hoạt động và đặc thù của từng cơ sở giáo dục đại học. Việc áp dụng thống nhất một bộ KPI cho tất cả các cơ sở giáo dục đại học là chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về định hướng phát triển giữa các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là sự khác biệt giữa các cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng và cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu.

Tiêu chuẩn 2 - Giảng viên

Tiêu chí 2.2 - Tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động

Khoản 5 Điều 2 quy định độ tuổi lao động của giảng viên cơ hữu cơ sở giáo dục đại học tư thục "được tính như quy định đối với cơ sở giáo dục đại học công lập." Điều này chưa xử lý rõ trường hợp Trường tư thục ký hợp đồng dài hạn với giảng viên đã hết tuổi hưu nhưng vẫn đóng bảo hiểm xã hội.

Kiến nghị: Bổ sung hướng dẫn cụ thể về cách xác định "giảng viên cơ hữu/giảng viên đồng cơ hữu" trong điều kiện đặc thù của Trường tư thục (không bị ràng buộc bởi biên chế nhà nước).

Tiêu chuẩn 3 - Cơ sở vật chất

Nên điều chỉnh tên thành” “Tiêu chuẩn 3 - Cơ sở vật chất và thư viện” và điều chỉnh cụm từ “học liệu” thành “Tài nguyên thông tin”.

Tiêu chí 3.1 - Diện tích đất (hệ số KVT)

Hệ số KVT = 2,5 cho khuôn viên nội thành thành phố trực thuộc Trung ương tạo lợi thế đáng kể cho cơ sở giáo dục đại học ở trung tâm đô thị. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn về:

Diện tích thuê ngắn hạn (dưới 5 năm) có được tính vào diện tích đất không?

Cơ sở giáo dục đại học sử dụng nhiều tòa nhà thuê ở các quận khác nhau cần phân bổ KVT như thế nào?

Kiến nghị: Bổ sung hướng dẫn chi tiết xác định KVT trong trường hợp cơ sở giáo dục đại học phân tán, nhiều địa điểm.

Tiêu chí 3.3. nên sửa thành: Tiêu chí 3.3. Có thư viện phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học, trong đó:

Không gian: Có trụ sở được bố trí thuận tiện đáp ứng yêu cầu của người sử dụng; Có không gian mạng được thiết lập nhằm cung cấp các dịch vụ trực tuyến tới người sử dụng cũng như liên kết tới các thư viện khác.

Tài nguyên thông tin: Có đủ tài nguyên thông tin phù hợp đáp ứng các ngành, chuyên ngành đào tạo; Tài nguyên thông tin phải được tổ chức, quản lý bằng các hệ thống phần mềm - công nghệ hiện đại đảm bảo để người sử dụng truy cập trực tuyến khai thác dễ dàng.

Người làm công tác thư viện: Có năng lực chuyên môn thông tin – thư viện và các năng lực khác, đáp ứng yêu cầu các vị trí công việc trong thư viện hiện đại.

Người sử dụng thư viện: 100% người học của cơ sở giáo dục đại học được tiếp cận các dịch vụ của thư viện

Tiêu chí 3.4 - 90% người học sử dụng LMS

Ngưỡng ≥ 90% người học "có phát sinh hoạt động học tập trên hệ thống học tập số" là rất cao, đặc biệt khi áp dụng cho hệ vừa làm vừa học và người học lớn tuổi.

Kiến nghị: Phân tầng ngưỡng theo hình thức đào tạo: chính quy ≥ 90%, vừa làm vừa học ≥ 70%, từ xa ≥ 95% (tương thích với đặc thù từng hệ).

Nên có lộ trình thực hiện đối với tiêu chí này thay vì áp dụng ngay khi Thông tư có hiệu lực, lý do: việc tổ chức đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học có sự khác biệt đáng kể; nhiều ngành chương trình đào tạo đại học theo định hướng ứng dụng, các học phần thực hành kỹ thuật, thực tập, đồ án, dự án có thời lượng lớn, được triển khai chủ yếu tại doanh nghiệp, do đó rất khó có thể tổ chức đào tạo trên hệ thống học tập số. Việc yêu cầu ngay tỷ lệ tối thiểu 90% người học có phát sinh hoạt động học tập trên hệ thống sẽ gây khó khăn cho một số cơ sở giáo dục đại học trong giai đoạn đầu triển khai.

Và ngưỡng 60% học liệu: Dự thảo Thông tư định nghĩa người sử dụng học liệu/hệ thống học tập số chỉ cần “có phát sinh ít nhất một trong các hoạt động” (như truy cập hệ thống, tải học liệu số, ...) trong suốt năm học. Việc người học chỉ cần đăng nhập hoặc tải 1 tài liệu duy nhất trong cả 1 năm học đã được tính là có sử dụng sẽ không phản ánh thực chất chất lượng chuyển đổi số.

Tiêu chuẩn 4 - Tài chính

Tiêu chí 4.1 - Tiêu chí Tài chính và rủi ro dừng đào tạo: Yêu cầu "Biên độ hoạt động trung bình 3 năm ≥0" gây bất lợi cho các cơ sở giáo dục đại học công lập phụ thuộc ngân sách và các cơ sở giáo dục đại học mở ngành mới có chi phí đầu tư lớn như Y, Kỹ thuật.

Tiêu chí 4.2 - Thành phần T(n) trong chỉ số tăng trưởng bền vững: Công thức tính chỉ số tăng trưởng bền vững có thành phần T(n) là "phần thu ngoài học phí và ngoài ngân sách nhà nước." Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục thuần túy (100% thu từ học phí), T(n) = 0, dẫn đến nguy cơ bị hiểu là không tăng trưởng dù thực tế học phí tăng đều.

Kiến nghị: Làm rõ cách tính T(n) cho cơ sở giáo dục đại học tư thục không nhận ngân sách nhà nước; hoặc bổ sung nhánh công thức riêng cho trường hợp này.

Minh bạch nhưng cần bảo mật dữ liệu tài chính: Bảng 4A yêu cầu khai báo chi tiết theo từng dòng thu chi lên HEMIS. Đây là thách thức về bảo mật thông tin kinh doanh của cơ sở giáo dục đại học tư thục đặc biệt khi các đối thủ cạnh tranh có thể tra cứu.

Kiến nghị: Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có cơ chế phân quyền truy cập HEMIS: cơ quan quản lý nhà nước truy cập đầy đủ; công chúng chỉ truy cập dữ liệu tổng hợp.

Tiêu chuẩn 5 - Tuyển sinh và đào tạo

Tiêu chí 5.2. Tỷ lệ thôi học: Tỷ lệ thôi học không cao hơn 10% và riêng đối với người học năm đầu không cao hơn 15%. Thực tế tỷ lệ này ở các cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở có đào tạo các ngành đặc thù thường cao hơn, việc khống chế cứng 15% có thể khiến các cơ sở giáo dục đại học gặp khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chí này.

Kiến nghị: Cần có tỷ lệ thôi học phù hợp hơn đối với các cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có đào tạo các ngành đặc thù.

Tiêu chí 5.3 - Tỷ lệ tốt nghiệp với ngưỡng tối thiểu phải đạt 60%: Tỷ lệ này được đo lường bằng cách lấy số người tốt nghiệp chia cho “số người nhập học của khóa tuyển sinh” ban đầu. Công thức này cố định mẫu số là 100% số lượng tân sinh viên lúc mới nhập học mà không có cơ chế trừ đi những sinh viên thôi học vì các lý do bất khả kháng, khách quan (như đi du học nước ngoài, gặp vấn đề sức khỏe đột xuất, tai nạn, ...). Việc yêu cầu cơ sở giáo dục đại học phải tính toàn bộ những hao hụt đầu vào không thuộc lỗi của hệ thống đào tạo sẽ khiến tỷ lệ tốt nghiệp bị kéo xuống và phản ánh không đúng chất lượng thực chất.

Tiêu chí 5.5 - Tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm: Công thức ước tính N1 theo nguyên tắc "người không trả lời = 50% có việc làm" là cách tiếp cận chưa hợp lý. Con số mặc định 50% này chưa cho thấy cơ sở khoa học và có thể làm sai lệch nghiêm trọng tỷ lệ có việc làm thực tế của cơ sở giáo dục, đặc biệt ở các trường có tỷ lệ sinh viên phản hồi khảo sát thấp.Tuy nhiên, cơ chế xác minh qua cơ sở dữ liệu quốc gia (phương án c) chưa có hướng dẫn triển khai thực tiễn.

Kiến nghị: Xác định rõ thời điểm Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức vận hành xác minh qua cơ sở dữ liệu quốc gia, tránh tình trạng trường bị kiểm tra bằng phương pháp khác nhau mỗi năm.

Tại mục a) có nêu: Việc làm phù hợp bao gồm việc làm có yêu cầu trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, hoạt động tự tạo việc làm có đăng ký kinh doanh hoặc tạo thu nhập thường xuyên, hoặc tiếp tục học tập trình độ cao hơn.

Kiến nghị: xem xét yêu cầu trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên.

Tại mục c) có nêu Kn là hệ số ước tính tỷ lệ người tốt nghiệp đại học đang học tiếp trình độ cao hơn, hoặc ra nước ngoài làm việc (do cơ sở giáo dục đại học cung cấp).

Kiến nghị: có hướng dẫn cụ thể để thống nhất cách tính giữa các cơ sở giáo dục đại học.

Tiêu chuẩn 6 - Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo

Tiêu chuẩn 6 về cơ bản phù hợp. Tuy nhiên, cần làm rõ: giảng viên kiêm nhiệm từ Viện/cơ sở giáo dục đại học khác có công bố được tính vào chỉ số 6.2 của cơ sở giáo dục đại học tư thục hay không, trong trường hợp giảng viên đó cũng được tính vào tỷ số 2.1.

Tại Khoản 6 Điều 6, dự thảo cho phép các trường thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an được dùng danh mục Tạp chí khoa học Việt Nam loại 1 để thay thế cho danh mục Web of Science/Scopus. Tuy nhiên, ở phần hướng dẫn tính toán (Mục 6.2.2, Phụ lục I) và Bảng 6A dùng để thu thập số liệu lại không có hướng dẫn hay biểu mẫu nào để các cơ sở giáo dục đại học này nhập số liệu quy đổi từ "Tạp chí khoa học Việt Nam loại 1”.

Điều 8 - Nguồn dữ liệu sử dụng để xác định các chỉ số đánh giá

Dữ liệu sử dụng để xác định và đánh giá các chỉ số của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học do cơ sở giáo dục đại học cập nhật và đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống quản trị nội bộ lên Hệ thống HEMIS …

Kiến nghị: hướng dẫn rõ thời điểm/ lộ trình công tác đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống quản trị nội bộ lên Hệ thống HEMIS.

Các kiến nghị khác:

Dự thảo Thông tư tạo áp lực hành chính trong tự đánh giá và giải trình [Điều 11, Điều 13; yêu cầu cơ sở giáo dục đại học tự đánh giá hằng năm, công khai, giải trình và chịu hậu kiểm. Điều này dẫn tới nguy cơ bộ máy phòng đảm bảo chất lượng phải tăng biên chế chỉ để “chạy số liệu”, giảng viên sẽ bị mất thêm thời gian vào công việc hành chính, nên sẽ bị phân tán ít nhiều khỏi hoạt động chuyên môn.

Kiến nghị 1: Bỏ yêu cầu "tự công khai + tự chịu trách nhiệm" tuyệt đối. Nên để Bộ/Ban quản lý Đại học quốc gia thẩm định chéo 20% số trường/năm. Tránh tình trạng trường nào cũng "đẹp số liệu" vì sợ bị hậu kiểm. Đề nghị Bộ chỉ yêu cầu "tự đánh giá nội bộ". Việc công khai toàn quốc và hậu kiểm chỉ thực hiện theo phương thức "kiểm tra xác suất" đối với tối đa 20% cơ sở/năm, do Bộ hoặc các Đại học vùng thực hiện.

Áp dụng ngưỡng theo nhóm trường, không "cào bằng".

Kiến nghị 2: Chuẩn nên chia làm 3 mức đạt ngưỡng với biên độ thời gian đạt được. Ví dụ: mức 1 tỷ lệ việc làm ≥50% là đạt, mức 2: ≥60% là đạt, Mức 3: ≥70% là đạt

Kiến nghị 3: Bổ sung cơ chế "miễn trừ có điều kiện" do Bộ trưởng xem xét đối với các cơ sở đào tạo ngành mũi nhọn, ngành đặc thù phục vụ an ninh quốc phòng, phát triển vùng kinh tế - xã hội khó khăn.

Cho phép "miễn trừ có điều kiện" rõ ràng hơn.

Hiện chỉ miễn cho cơ sở giáo dục đại học mới thành lập, trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Kiến nghị 4: Cần bổ sung: cơ sở giáo dục đại học đào tạo ngành mũi nhọn, ngành dễ bị lỗ, nhưng vì an ninh quốc phòng, vùng đặc thù... được Bộ trưởng xem xét.

100% chỉ số phải lấy từ HEMIS.

Nếu hệ thống lỗi, sai công thức hoặc chậm cập nhật sẽ ảnh hưởng toàn ngành.

Kiến nghị 5: Cho phép cơ sở giáo dục đại học được bổ sung minh chứng từ hệ thống quản trị nội bộ của trường khi có sai lệch, và Bộ có trách nhiệm công bố chỉnh sửa công thức tính trên HEMIS.

Kiến nghị 6: Nên có sự thống nhất đồng bộ về tên gọi/khái niệm/nội hàm các khái niệm trong Dự thảo này; nên dùng khái niệm “tài nguyên thông tin” trong Thư viện đại học (vì Luật Thư viện dùng khái niệm này bao gồm cả tài nguyên thông tin số và in ấn). Hơn nữa, “tài nguyên thông tin” phục vụ đào tạo (bao gồm giảng dạy của thầy, học tập của trò và nghiên cứu khoa học của cả thầy và trò). Nếu dùng khái niệm “học liệu” (rất dễ hiểu chỉ phục vụ cho người học).

Kiến nghị 7: Nên chăng có sự Phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo quy mô, mục tiêu, từ đó đưa ra Bộ tiêu chuẩn tương ứng. Ví dụ: Có 02 bộ chuẩn cơ sở giáo dục đại học:

(1) Chuẩn cơ sở giáo dục đại học “tinh hoa”: Có yêu cầu cao hơn phục vụ thúc đẩy các trường đại học mạnh, định hướng nghiên cứu, có thứ hạng cao trên thế giới

(2) Chuẩn cơ sở giáo dục đại học “standard”: Có yêu cầu thấp hơn, tập trung đào tạo đại học

Tương ứng với từng bộ tiêu chuẩn cơ sở giáo dục đại học, thì yêu cầu cho thư viện, học liệu cũng có sự điều chỉnh tương ứng, trong đó phân tách yêu cầu cho đào tạo đại học và yêu cầu cho đào tạo sau đại học, nghiên cứu.

Kiến nghị 8: Mỗi cơ sở giáo dục đại học tùy theo điều kiện, vị trí địa lý, quy mô đào tạo, ngành đào tạo, chức năng… có các điều kiện về con người, tài chính, cơ sở vật chất khác nhau. Liệu có nên đưa ra 1 tiêu chuẩn duy nhất cho thư viện đại học vì nó có thể quá cao đối với 1 số đơn vị, nhưng có thể lại quá thấp với 1 số đơn vị khác.

Thùy Linh