Bộ Giáo dục và Đào tạo đang soạn thảo Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Theo Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP, đánh giá thực trạng mức thu học phí của các cơ sở giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết mức học phí thực tế có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm cơ sở giáo dục đại học, đồng thời giữa các nhóm ngành đào tạo.
Học phí tại các trường chưa tự bảo đảm chi thường xuyên tiệm cận mức trần
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối với nhóm cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư, mức học phí thực tế nhìn chung vẫn thấp hơn mức trần được phép áp dụng.
Trong khi đó, đối với các cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, mức học phí thực tế của phần lớn các ngành đào tạo đang ở mức tiệm cận hoặc bằng mức trần quy định.
Tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần dao động từ 99% đến 103% ở hầu hết các nhóm ngành.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều này cho thấy dư địa điều chỉnh học phí của nhóm cơ sở này không còn nhiều trong khuôn khổ hiện hành, trong khi nhu cầu bảo đảm nguồn lực cho hoạt động đào tạo ngày càng gia tăng.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy một số trường hợp có mức học phí vượt trần quy định nhưng chưa ghi nhận thông tin về kiểm định chất lượng giáo dục hoặc chưa thuộc đối tượng được áp dụng cơ chế xác định học phí theo chi phí đào tạo thực tế.
Các trường hợp này tập trung chủ yếu ở một số ngành thuộc lĩnh vực kỹ thuật và sức khỏe tại một số cơ sở giáo dục đại học công lập, như Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định (nhóm ngành kỹ thuật) và Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế (nhóm ngành sức khỏe) cùng một số cơ sở khác.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá đây là nội dung cần tiếp tục rà soát, đánh giá nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách học phí thống nhất với quy định của Nghị định số 238/2025/NĐ-CP và các quy định có liên quan.
Khối ngành sức khỏe có mặt bằng học phí cao nhất
Một trong những điểm đáng chú ý được nêu trong báo cáo là khối ngành sức khỏe có mặt bằng học phí cao nhất trong tất cả các nhóm ngành đào tạo.
Nhiều chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực y khoa, dược học, răng hàm mặt, điều dưỡng và kỹ thuật y học đang áp dụng mức học phí cao hơn đáng kể so với các nhóm ngành khác.
Tại các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí tối đa của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng đạt 82,2 triệu đồng/người học/năm, tương đương 174,2% mức trần.
Đối với nhóm ngành Y học và Dược học, học phí tối đa đạt 79,5 triệu đồng/người học/năm, tương đương 127,8% mức trần.
Tại nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (mức 3,4), mức học phí bình quân của các ngành sức khỏe cũng vượt xa các nhóm ngành còn lại.
Cụ thể, tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng đạt 152,9%, trong khi mức tối đa lên tới 273,3%.
Đối với nhóm ngành Y học và Dược học, tỷ lệ tương ứng là 139,9% và 196,5%.
Trong khi đó, phần lớn các nhóm ngành khác chỉ dao động quanh mức trần hoặc thấp hơn mức trần quy định.
Trường kiến nghị xếp Răng Hàm Mặt cùng nhóm Y học, Dược học
Qua khảo sát, một số cơ sở đào tạo như Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế cho rằng việc xếp ngành Răng Hàm Mặt vào cùng nhóm học phí với Điều dưỡng, Hộ sinh, Dinh dưỡng và Kỹ thuật y học chưa phản ánh đầy đủ đặc thù đào tạo của ngành.
Theo ý kiến của các cơ sở đào tạo, chương trình Bác sĩ Răng Hàm Mặt có yêu cầu về kiến thức chuyên môn, thời lượng thực hành lâm sàng, cơ sở vật chất và chi phí đào tạo tương đương với ngành Y học.
Do đó, các cơ sở kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh ngành Răng Hàm Mặt sang cùng nhóm học phí với ngành Y học và Dược học, nhằm phù hợp hơn với chi phí đào tạo thực tế và yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo.
Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đưa ra số liệu khảo sát cụ thể về học phí, chi phí đào tạo và mức học phí tính đủ chi phí đào tạo của nhóm ngành Răng Hàm Mặt trong năm học 2025-2026.
Tại Trường Đại học Y Hà Nội, nhóm ngành Y dược gồm Y khoa, Răng Hàm Mặt có mức học phí năm học 2025-2026 là 82,2 triệu đồng/người học/năm, tương ứng với chi phí đào tạo bình quân 82,2 triệu đồng/người học/năm. Tuy nhiên, mức học phí tính đủ chi phí đào tạo dự kiến lên tới 191 triệu đồng/người học/năm.
Như vậy, mức học phí hiện tại mới bằng khoảng 43,0% mức học phí dự kiến tính đủ chi phí đào tạo.
Trong khi đó, tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, Răng Hàm Mặt khóa 2025-2031 có mức học phí 47,2 triệu đồng/người học/năm, trong khi chi phí đào tạo bình quân là 64,9 triệu đồng/người học/năm. Tỷ lệ thu học phí đáp ứng chi phí đào tạo đạt 72,73%.
Các khóa Răng Hàm Mặt 2022-2028, 2021-2027 và 2020-2026 có mức học phí 23,6 triệu đồng/người học/năm, trong khi chi phí đào tạo bình quân là 36,45 triệu đồng/người học/năm. Tỷ lệ thu học phí đáp ứng chi phí đào tạo đạt 64,75%.
Đáng chú ý, tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, chương trình Răng Hàm Mặt chưa kiểm định có mức học phí 23,6 triệu đồng/người học/năm, trong khi chi phí đào tạo bình quân là 47,2 triệu đồng/người học/năm. Mức học phí này chỉ đáp ứng 50% chi phí đào tạo.
Những số liệu trên cho thấy khoảng cách giữa mức học phí thực tế và chi phí đào tạo ở một số chương trình Răng Hàm Mặt còn khá lớn. Đặc biệt, tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, chi phí đào tạo bình quân của các khóa Răng Hàm Mặt được khảo sát đều cao hơn mức học phí thực tế.