Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện chính sách học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo là hướng dẫn thực hiện chính sách học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP thống nhất trên phạm vi cả nước với đối tượng nhận học bổng.
Ngoài ra, bên cạnh các thí sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế được xét tuyển thẳng, cơ hội đến với tất cả các thí sinh nằm trong top 30% thí sinh xuất sắc theo từng nhóm ngành đào tạo trên phạm vi toàn quốc có cơ hội nhận học bổng Chính phủ trước khi nhập học.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, điều này sẽ giúp lựa chọn được những người có tiềm năng học tập, nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên, thay vì chỉ dựa vào một tiêu chí thành tích duy nhất.
Giúp phát hiện, hỗ trợ nhiều người học có tiềm năng hơn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, dự thảo cần được nhìn nhận không đơn thuần là chính sách cấp học bổng mà là một hình thức Nhà nước hỗ trợ đào tạo đối với những sinh viên xuất sắc trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược.
Theo thầy Vũ, việc được hỗ trợ trong suốt quá trình học tập sẽ giúp người học yên tâm theo đuổi ngành đã lựa chọn, có điều kiện phát huy năng lực, tập trung cho học tập và nghiên cứu.
Từ đó, chính sách sẽ góp phần gia tăng sức hút của các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, đồng thời khuyến khích, thu hút và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát triển lâu dài của đất nước.
Bên cạnh đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ khẳng định việc có thêm cơ hội cho top 30% thí sinh có kết quả học tập xuất sắc sẽ góp phần nâng cao tính công bằng và mở rộng cơ hội tiếp cận chính sách.
“Thành tích tại các kỳ thi quốc gia, quốc tế là một tiêu chí quan trọng nhưng chưa phản ánh đầy đủ năng lực và tiềm năng của người học. Trên thực tế, nhiều thí sinh có quá trình học tập tốt, có năng lực và ý chí phấn đấu nhưng không có điều kiện tham gia hoặc đạt giải tại các kỳ thi này.
Vì vậy, khi cơ hội nhận học bổng được mở rộng sẽ khuyến khích và hỗ trợ thêm nhiều người học có tiềm năng hơn, qua đó tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đa dạng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) bày tỏ.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng nhấn mạnh, trước đây học bổng chủ yếu dành cho một nhóm nhỏ học sinh đạt giải quốc gia hoặc quốc tế, trong khi trên thực tế vẫn còn nhiều học sinh có năng lực học tập xuất sắc nhưng chưa có điều kiện tham gia hoặc đạt thành tích tại các kỳ thi này.
Khi chính sách có cả đối tượng nhóm 30% thí sinh xuất sắc theo từng nhóm ngành trên phạm vi cả nước, nhiều học sinh giỏi sẽ có thêm động lực lựa chọn các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Đây không chỉ là giải pháp góp phần nâng cao sức hút của những lĩnh vực đang cần nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn giúp cải thiện chất lượng đầu vào của các cơ sở giáo dục đại học.
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang ưu tiên phát triển các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới và tự động hóa, việc mở rộng chính sách học bổng sẽ phát đi tín hiệu rất tích cực, khẳng định Nhà nước sẵn sàng đầu tư cho nguồn nhân lực chiến lược, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Đồng quan điểm, Thạc sĩ Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, việc cấp học bổng cho thí sinh thuộc nhóm 30% xuất sắc nhất theo từng nhóm ngành đào tạo trên phạm vi toàn quốc sẽ tạo ra sự công bằng và mở rộng cơ hội tiếp cận chính sách học bổng một cách thực chất.
“Trước đây, học sinh đạt giải quốc gia thường tập trung ở các trường chuyên thuộc những thành phố lớn, nơi có điều kiện bồi dưỡng vượt trội. Trong khi đó, nhiều học sinh ở khu vực nông thôn, miền núi có năng lực học tập xuất sắc nhưng lại thiếu môi trường để cọ xát ở các sân chơi học thuật lớn.
Việc xét học bổng dựa trên điểm thi môn Toán và hai trong các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học và Tiếng Anh của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ 22,50 trở lên theo thang điểm 30 không bao gồm điểm ưu tiên, điểm cộng và trúng tuyển thuộc nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành đào tạo trên phạm vi toàn quốc trong đợt xét tuyển chung của năm tuyển sinh đã đưa tất cả thí sinh về cùng một mặt bằng đánh giá minh bạch.
Cách làm này tạo cơ hội bình đẳng để cả những học sinh ở vùng nông thôn, miền núi, nếu thực sự có năng lực, cũng có thể nhận được sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước.
Đồng thời, việc xét chọn được tự động hóa trên nền tảng dữ liệu tuyển sinh chung sẽ loại bỏ các yếu tố cảm tính, bảo đảm nguyên tắc dữ liệu đầu vào minh bạch, chuẩn xác sẽ cho kết quả công bằng, qua đó hạn chế nguy cơ bỏ sót nhân tài ở bất kỳ khu vực địa lý nào”, Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) chia sẻ.
Đề xuất hoàn thiện một số điểm về cơ chế triển khai chính sách học bổng
Về tiêu chí xác định "top 30% thí sinh xuất sắc theo từng nhóm ngành đào tạo trên phạm vi toàn quốc", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng cần bảo đảm ba yêu cầu cốt lõi là minh bạch, thống nhất và có khả năng kiểm chứng.
Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS) - nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý và kết nối thông tin của các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.
Nếu khai thác hiệu quả HEMIS kết hợp với dữ liệu tuyển sinh quốc gia, Bộ hoàn toàn có thể xác định danh sách thí sinh thuộc top 30% theo từng nhóm ngành một cách khách quan, minh bạch và tự động, qua đó giảm tối đa sự can thiệp chủ quan của con người.
Thầy Quỳnh cũng cho rằng cần quy định rõ cách xác định nhóm ngành, nguyên tắc quy đổi điểm giữa các phương thức tuyển sinh khác nhau (nếu có), đồng thời công khai tiêu chí và quy trình xếp hạng để các trường và thí sinh đều có thể kiểm chứng. Bên cạnh đó, danh sách thí sinh đủ điều kiện nhận học bổng nên được công bố trước thời điểm nhập học, đồng thời có cơ chế rà soát, giải quyết khiếu nại nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo sự đồng thuận giữa các cơ sở đào tạo.
“Để chính sách học bổng thực sự phát huy hiệu quả, học bổng không nên chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ khi nhập học mà cần trở thành cơ chế đồng hành cùng sinh viên trong suốt quá trình đào tạo.
Trước hết, học bổng nên được duy trì theo từng học kỳ hoặc từng năm học, gắn với kết quả học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học. Điều này vừa tạo động lực để sinh viên không ngừng phấn đấu, vừa bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả.
Bên cạnh hỗ trợ tài chính, sinh viên cần được tạo điều kiện tiếp cận các phòng thí nghiệm hiện đại, tham gia các dự án nghiên cứu, kết nối với doanh nghiệp đối tác, chương trình thực tập có hưởng lương cũng như được cố vấn học tập và định hướng nghề nghiệp.
Từ kinh nghiệm thực tiễn tại Trường Đại học Lạc Hồng, việc kết hợp học bổng với môi trường học tập thực hành, nghiên cứu khoa học, các cuộc thi sáng tạo, dự án hợp tác doanh nghiệp và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với chỉ hỗ trợ học phí. Khi nhìn thấy lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng, sinh viên sẽ có thêm động lực gắn bó với ngành học và nhà trường”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho hay.
Còn theo Thạc sĩ Lê Vũ, thu hút được người học chỉ là bước khởi đầu, trong khi việc giữ chân sinh viên đòi hỏi một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện trong suốt quá trình đào tạo. Nếu chỉ sử dụng điều kiện điểm số để duy trì học bổng sẽ vô tình tạo áp lực tâm lý quá lớn cho sinh viên.
Vì vậy, Thạc sĩ Lê Vũ nhận định chính sách cần được thiết kế theo hướng khuyến khích phát triển năng lực toàn diện thay vì chỉ tập trung vào thành tích học tập. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh tích hợp trí tuệ nhân tạo vào hoạt động giảng dạy, xây dựng các mô-đun học tập gắn với thực tiễn và triển khai các dự án giáo dục STEM để sinh viên thấy rõ giá trị ứng dụng của ngành học.
Đồng thời, việc kết nối sinh viên với hệ thống học liệu phong phú ngay từ năm thứ nhất sẽ góp phần hình thành tư duy nghề nghiệp, nuôi dưỡng đam mê và hạn chế tối đa tình trạng bỏ học giữa chừng.
“Để chính sách phát huy hiệu quả trong thực tế, tôi đề xuất hoàn thiện một số điểm về cơ chế thực thi. Thứ nhất, đối với quy định hoàn trả kinh phí học bổng, cần có cách tiếp cận mang tính nhân văn hơn. Trong trường hợp sinh viên buộc phải dừng học vì những biến cố bất khả kháng, việc yêu cầu hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận có thể trở thành một gánh nặng rất lớn. Vì vậy, nên có hội đồng xem xét để quyết định miễn, giảm nghĩa vụ hoàn trả đối với từng trường hợp cụ thể.
Thứ hai, mức hỗ trợ tài chính cần được điều chỉnh linh hoạt theo chỉ số giá sinh hoạt của từng vùng, nhằm bảo đảm tính thiết thực, thay vì áp dụng một mức hỗ trợ cào bằng trên toàn quốc.
Thứ ba, trong cơ chế triển khai tại các trường đại học, nhà trường không nên chỉ đóng vai trò trung gian chi trả mà cần chủ động kết nối với doanh nghiệp. Người học thụ hưởng chính sách cần được đào tạo chuyên sâu, đồng thời có cơ hội thực tập hưởng lương tại các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp, qua đó hình thành một vòng lặp khép kín từ tuyển sinh đến tuyển dụng”, Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) bày tỏ.
Trong khi đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ, muốn chính sách học bổng phát huy hiệu quả lâu dài trong thu hút và giữ chân nhân tài, trước hết cần xác định đây là chính sách hỗ trợ đào tạo dài hạn dành cho nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, mức hỗ trợ phải đủ thiết thực, được điều chỉnh phù hợp với chi phí học tập, sinh hoạt của người học, đồng thời bảo đảm nguồn kinh phí ổn định trong suốt khóa học.
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng điều kiện duy trì học bổng nên được xây dựng trên cơ sở kết quả và tiến độ học tập theo từng năm, đi kèm cơ chế cảnh báo và tạo điều kiện để sinh viên có thời gian cải thiện trước khi xem xét dừng hỗ trợ, thay vì áp dụng các tiêu chí quá cứng nhắc.
“Về cơ chế triển khai, Nhà nước có thể phân bổ chỉ tiêu và kinh phí cho những cơ sở đào tạo trọng điểm, có năng lực và chất lượng tốt; trên cơ sở các tiêu chuẩn chung, các trường sẽ chủ động xây dựng tiêu chí xét chọn và quản lý học bổng phù hợp với đặc thù đào tạo. Đồng thời, quá trình triển khai cần bảo đảm công khai, minh bạch, đơn giản và học bổng được chi trả kịp thời.
Ngoài ra, học bổng cần được đặt trong một hệ sinh thái phát triển nhân tài, bao gồm cơ hội tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, kết nối với doanh nghiệp, chương trình trao đổi quốc tế và định hướng nghề nghiệp sau tốt nghiệp.
Khi người học nhìn thấy một lộ trình phát triển rõ ràng, học bổng sẽ không chỉ là sự hỗ trợ về tài chính mà còn trở thành động lực để họ gắn bó lâu dài với ngành học, từ đó đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của đất nước”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ đề xuất.