Hệ thống trường nghề: Ít chương trình được kiểm định, chi phí đào tạo nhiều ngành nghề cao hơn trần

12/08/2026 10:50
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Việc hoàn thiện chính sách với GDNN cần ưu tiên các giải pháp hoàn thiện định mức kinh tế - kỹ thuật, tăng cường hỗ trợ ngân sách đối với các ngành/nghề có chi phí đào tạo cao, nâng cao năng lực tự chủ tài chính, hỗ trợ người học thuộc các nhóm yếu thế.

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP, thực tế học phí của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay còn nhiều vướng mắc, cần sớm được khắc phục.

Vì sao phần lớn cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa sử dụng hết dư địa học phí theo quy định?

Thực tế hiện nay, mức thu học phí đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 238/2025/NĐ-CP.

Theo đó, mức học phí được xác định theo nhóm ngành, nghề đào tạo và mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

screenshot-2026-08-12-091644.png
Định mức học phí đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo các mức tự chủ năm học 2025- 2026 (Đơn vị: Nghìn đồng/người học/tháng).

Cụ thể, đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, mức trần học phí trình độ cao đẳng và trung cấp dao động từ 1,36 triệu đồng đến 2,38 triệu đồng/người học/tháng tùy theo nhóm ngành đào tạo. Trong đó, nhóm ngành sức khỏe có mức trần cao nhất do đặc thù đào tạo đòi hỏi chi phí lớn cho thực hành, thực tập và trang thiết bị chuyên môn.

Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, mức học phí tối đa được xác định không quá 2 lần mức trần tương ứng của nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên. Quy định này nhằm từng bước thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo gắn với quá trình tự chủ tài chính.

Theo kết quả khảo sát thực tế từ báo cáo cho thấy, cơ chế học phí theo Nghị định số 238/2025/NĐCP cơ bản đã tạo khuôn khổ pháp lý để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện tự chủ tài chính gắn với chi phí đào tạo.

Đáng nói, học phí thực tế hiện nay nhìn chung vẫn thấp hơn đáng kể so với mức trần quy định và chưa phản ánh đầy đủ chi phí đào tạo thực tế của nhiều ngành nghề.

Thực tế, phần lớn cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa sử dụng hết dư địa học phí theo quy định. Kết quả khảo sát cho thấy, mức học phí thực tế tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện còn thấp hơn đáng kể so với mức trần được phép áp dụng.

Tại các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí thực tế của phần lớn ngành nghề được khảo sát chỉ tương đương khoảng 45% - 50% mức trần học phí.

Tại các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí bình quân phổ biến đạt khoảng 55% - 90% mức trần tùy theo ngành nghề và trình độ đào tạo.

Đáng chú ý, khảo sát ghi nhận một số chương trình đào tạo có mức học phí rất thấp, chỉ từ khoảng 2,4 - 2,7 triệu đồng/người học/năm, trong khi nhiều ngành nghề thuộc lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, xây dựng hoặc sức khỏe đòi hỏi chi phí lớn cho hoạt động thực hành, vật tư tiêu hao và trang thiết bị đào tạo.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho biết việc chưa sử dụng hết dư địa học phí chủ yếu xuất phát từ yêu cầu bảo đảm khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của người học và duy trì quy mô tuyển sinh, đặc biệt tại các địa bàn còn khó khăn về kinh tế - xã hội.

Đáng nói, mặc dù mức học phí thực tế còn thấp hơn đáng kể so với mức trần quy định, nhiều ngành nghề đào tạo vẫn chưa bảo đảm bù đắp đầy đủ chi phí đào tạo thực tế.

Khó khăn này tập trung chủ yếu tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa tự bảo đảm chi thường xuyên. Kết quả khảo sát cho thấy học phí hiện hành chỉ đáp ứng khoảng 36%–76% chi phí đào tạo đối với trình độ cao đẳng và khoảng 70%– 85% đối với trình độ trung cấp.

Trong khi đó, tại nhóm cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí hiện hành nhìn chung đã tiệm cận hoặc cơ bản đáp ứng chi phí đào tạo thực tế ở phần lớn ngành nghề được khảo sát. Kết quả này cho thấy áp lực tài chính hiện nay chủ yếu tập trung ở nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, trong bối cảnh chi phí đào tạo ngày càng gia tăng do tác động của giá điện, nước, vật tư thực hành, bảo trì thiết bị, chuyển đổi số và tiền lương.

Không ghi nhận trường hợp thu học phí vượt trần nhưng nhiều ngành nghề có chi phí đào tạo cao hơn mức trần

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát còn cho thấy, không có trường hợp cơ sở giáo dục nghề nghiệp nào thu học phí vượt mức trần quy định tại Nghị định số 238/2025/NĐ-CP. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý so với khối giáo dục đại học, nơi đã xuất hiện một số chương trình đào tạo áp dụng mức học phí vượt trần theo cơ chế đặc thù.

Tuy nhiên, việc không xuất hiện tình trạng thu học phí vượt trần không đồng nghĩa với việc mức trần học phí hiện hành đã phản ánh đầy đủ chi phí đào tạo thực tế. Khảo sát cho thấy tại nhiều ngành nghề đào tạo, đặc biệt ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, chi phí đào tạo thực tế đã vượt đáng kể mức trần học phí hiện hành.

Ở trình độ cao đẳng, chi phí đào tạo của nhiều nhóm ngành dao động từ khoảng 133% đến 150% mức trần học phí, trong đó nhóm nông, lâm, ngư nghiệp và thú y; dịch vụ, du lịch và môi trường; khoa học xã hội, nghệ thuật, giáo dục và đào tạo; sản xuất, chế biến và xây dựng là những nhóm có mức chênh lệch lớn nhất.

Trong khi đó, tại trình độ trung cấp, nhiều nhóm ngành cũng ghi nhận chi phí đào tạo thực tế cao hơn từ khoảng 12% đến 40% so với mức trần học phí. Kết quả này cho thấy ngay cả trong trường hợp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp áp dụng mức học phí tối đa theo quy định hiện hành, nhiều ngành nghề vẫn chưa bảo đảm bù đắp đầy đủ chi phí đào tạo thực tế. Điều này phản ánh áp lực chi phí ngày càng gia tăng đối với các ngành nghề có yêu cầu cao về thực hành, thực tập, trang thiết bị và vật tư đào tạo.

Mặt khác, báo cáo cũng chỉ ra khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo tập trung chủ yếu ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa tự bảo đảm chi thường xuyên.

Kết quả khảo sát cho thấy, sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm cơ sở giáo dục nghề nghiệp về khả năng cân đối giữa nguồn thu học phí và chi phí đào tạo đối với các nhóm cơ sở giáo dục tự đảm bảo chi thường xuyên và nhóm cơ sở giáo dục chưa đảm bảo chi thường xuyên.

Đối với các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí hiện hành nhìn chung đã tiệm cận hoặc cơ bản đáp ứng chi phí đào tạo ở phần lớn các ngành nghề được khảo sát. Tỷ lệ học phí đáp ứng chi phí đào tạo đạt khoảng 92% - 100% đối với trình độ cao đẳng và khoảng 100% đối với các ngành được khảo sát ở trình độ trung cấp.

Trong khi đó, tại các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí hiện hành mới chỉ đáp ứng được một phần chi phí đào tạo thực tế (khoảng 36% đến 85% chi phí đào tạo thực tế tùy theo ngành nghề và trình độ đào tạo) và khoảng cách giữa học phí với chi phí đào tạo vẫn còn khá lớn ở nhiều ngành nghề.

Điều này cho thấy những khó khăn về tài chính hiện nay tập trung chủ yếu ở nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên. Đây cũng là nhóm chịu áp lực lớn nhất trong việc duy trì chất lượng đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm điều kiện thực hành, thực tập cho người học trong bối cảnh khả năng tăng học phí còn hạn chế.

Không những vậy, báo cáo cũng chỉ rõ về tình trạng học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt mức trần xuất hiện ở hầu hết các nhóm ngành nghề.

Khảo sát cho thấy, nếu áp dụng nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo thì mức học phí cần thiết đối với nhiều ngành nghề đào tạo hiện nay đều cao hơn đáng kể so với mức trần học phí quy định. Đối với trình độ cao đẳng, tất cả các nhóm ngành có số liệu khảo sát tại các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên đều ghi nhận mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt mức trần hiện hành (6/6 nhóm ngành, tỷ lệ dao động dao động từ khoảng 140,8% đến 189,4% mức trần).

Tương tự, ở trình độ trung cấp, phần lớn các nhóm ngành cũng có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo cao hơn đáng kể so với mức trần quy định. Khoảng cách này tập trung rõ nét ở các ngành nghề có yêu cầu cao về thực hành, thực tập và đầu tư trang thiết bị đào tạo như sản xuất, chế biến và xây dựng; nông, lâm, ngư nghiệp và thú y; sức khỏe; dịch vụ, du lịch và môi trường. Đây là những ngành nghề đòi hỏi chi phí lớn cho hệ thống xưởng thực hành, thiết bị chuyên dùng, vật tư tiêu hao và hoạt động thực tập nghề nghiệp.

Nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng phản ánh chi phí điện, nước, nguyên vật liệu thực hành, bảo trì thiết bị và yêu cầu chuyển đổi số đang gia tăng đáng kể trong những năm gần đây, làm tăng áp lực tài chính và chi phí đào tạo thực tế của nhà trường.

cd.png
Mức học phí và chi phí đào tạo thực tế của các chương trình đào tạo trình độ cao đẳng (Đơn vị: Nghìn đồng/người học/tháng).
tc1.png
tc2.png
Mức học phí và chi phí đào tạo thực tế của các chương trình đào tạo trình độ trung cấp (Đơn vị: Nghìn đồng/người học/tháng).

Chỉ 12,9% ngành đào tạo trình độ cao đẳng được kiểm định chất lượng

Đáng chú ý, báo cáo còn cho thấy, số lượng chương trình đào tạo được kiểm định chất lượng trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện còn khá hạn chế.

Trong tổng số 124 ngành đào tạo trình độ cao đẳng được khảo sát, chỉ có 16 ngành đã được kiểm định chất lượng, chiếm khoảng 12,9%.

Đối với trình độ trung cấp, chỉ ghi nhận 01 ngành đã được kiểm định trong tổng số 66 ngành khảo sát. Các chương trình đã được kiểm định chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ, sức khỏe, giáo dục, nông nghiệp và dịch vụ. Đây là những ngành nghề có yêu cầu cao về điều kiện bảo đảm chất lượng, cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành và đội ngũ nhà giáo.

Mặc dù số lượng chương trình được kiểm định còn hạn chế, kết quả khảo sát cho thấy các chương trình này thường có chi phí đào tạo cao hơn mặt bằng chung do phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng theo yêu cầu kiểm định.

Trước các thực tế trên, trong thời gian tới, việc hoàn thiện chính sách đối với giáo dục nghề nghiệp cần ưu tiên các giải pháp hoàn thiện định mức kinh tế - kỹ thuật, tăng cường hỗ trợ ngân sách đối với các ngành nghề có chi phí đào tạo cao, nâng cao năng lực tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ người học thuộc các nhóm yếu thế.

Việc điều chỉnh mức trần học phí chỉ nên được xem xét trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động đối với khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng ngành nghề đào tạo.

Tường San