Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò quyết định đối với tương lai dân tộc. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa học và hành, giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa nhà trường và đời sống xã hội.
Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đặt trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển đội ngũ nhân lực y tế, coi đây là một trong những trụ cột của hệ thống an sinh xã hội.
Thực tế, hiện nay một số địa phương đang nghiên cứu phương án sáp nhập các trung tâm y tế, bệnh viện quy mô nhỏ hoặc hoạt động kém hiệu quả. Nhiều chuyên gia cho rằng, quá trình sắp xếp cơ sở y tế cần gắn kết với chiến lược đào tạo và phát triển nhân lực để đạt mục tiêu nâng cao chất lượng hệ thống y tế. Hướng tiếp cận đang được gợi mở là tận dụng chính quá trình sắp xếp để tái cấu trúc chức năng của các cơ sở y tế quy mô nhỏ, chuyển đổi thành bệnh viện thực hành trực thuộc trường đào tạo khối ngành sức khỏe. Từ đó, góp phần thực hiện hóa việc gắn đào tạo với thực tiễn theo đúng tinh thần các nghị quyết đã đặt ra.
Trường y dược tha thiết có bệnh viện thực hành
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thầy thuốc ưu tú, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho, Hiệu trưởng Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng đánh giá, đề xuất chuyển đổi các trung tâm y tế, bệnh viện hoạt động kém hiệu quả thành bệnh viện thực hành trực thuộc trường đào tạo khối ngành sức khỏe là hướng đi có cơ sở. Bởi, phương án này có thể đồng thời giải quyết hai điểm nghẽn hiện nay, đó là thiếu môi trường đào tạo lâm sàng chuẩn mực và nguy cơ lãng phí nguồn lực y tế công, và đây cũng là mong muốn từ rất lâu của nhiều trường.
Được biết, tại buổi làm việc với Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ngày 14/5, lãnh đạo Đại học Đà Nẵng đã kiến nghị được tiếp nhận một cơ sở y tế của thành phố để xây dựng bệnh viện thực hành phục vụ đào tạo, nghiên cứu và khám chữa bệnh. Việc hình thành bệnh viện thực hành được xem là điều kiện quan trọng để phát triển Trường Y Dược – Đại học Đà Nẵng trở thành trường đại học thành viên, qua đó góp phần bổ sung nguồn nhân lực y tế cho thành phố và khu vực miền Trung – Tây Nguyên.
Do chưa có bệnh viện thực hành trực thuộc, Trường Y Dược – Đại học Đà Nẵng chủ yếu triển khai cơ chế phối hợp với các cơ sở y tế bên ngoài. Điều này khiến nhà trường thiếu tính chủ động, đặc biệt trong tổ chức đào tạo lâm sàng, khi giảng viên không thể trực tiếp tham gia thường xuyên tại buồng bệnh. Nếu tiếp tục phụ thuộc vào hình thức “thuê” cơ sở thực hành, cả hai phía đều gặp khó khăn về nhân lực giảng dạy và khai thác cơ sở vật chất. Chính vì thế, để đào tạo tốt nguồn nhân lực phục vụ địa phương, chính địa phương cũng cần đồng hành, ủng hộ và đầu tư cho các cơ sở đào tạo. Việc chuyển đổi các bệnh viện hoạt động kém hiệu quả thành bệnh viện thực hành sẽ tạo ra lợi ích chung, tránh triệt tiêu nguồn lực sẵn có.
“Chuyển đổi các trung tâm y tế, bệnh viện hoạt động kém hiệu quả trở thành bệnh viện thực hành trực thuộc trường đào tạo khối ngành sức khỏe có ý nghĩa lớn trong bối cảnh hệ thống y tế đang chuyển sang cấu trúc 3 cấp (ban đầu, cơ bản, chuyên sâu), thay cho cách phân thành 4 tuyến trước đây (trung ương, tỉnh, huyện, xã). Khi tiến hành sắp xếp lại các cơ sở y tế trên phạm vi cả nước, chắc chắn sẽ xuất hiện tình trạng dôi dư nhất định. Do đó, đây chính là dư địa để các trường đào tạo khối ngành sức khỏe chủ động đề xuất tiếp nhận, chuyển đổi một số bệnh viện công lập trở thành bệnh viện thực hành trực thuộc trường”, thầy Nho chia sẻ.
Tuy nhiên, để triển khai được phương án tối ưu này, thầy Nho cho rằng cần có sự đồng thuận từ địa phương. Đối với Trường Y Dược – Đại học Đà Nẵng, việc có được một bệnh viện thực hành là nhu cầu nội tại và đang được nhà trường xúc tiến thông qua làm việc với chính quyền thành phố.
“Với trường đào tạo khối ngành sức khỏe có bệnh viện thực hành trực thuộc, lợi ích trước hết là tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực hành lâm sàng trong cùng một hệ thống, cùng thực hiện một sứ mệnh chung. Về lâu dài, mô hình này mở ra khả năng chia sẻ nguồn nhân lực theo hướng linh hoạt hơn, khi giảng viên được tham gia thực hành nghề, trong khi các bác sĩ có chuyên môn tốt, có nguyện vọng giảng dạy, có thể trở thành giảng viên của nhà trường.
Hơn nữa, tương tự như thế mạnh của các bệnh viện đại học trên thế giới, khi có bệnh viện thực hành trực thuộc, nhà trường có thể triển khai các ứng dụng mới, tổ chức nghiên cứu, đánh giá lại phác đồ điều trị”, thầy Nho cho biết.
Bên cạnh đó, trường đào tạo khối ngành sức khỏe có bệnh viện thực hành trực thuộc cũng giúp nâng cao khả năng thu hút chuyên gia. Thực tế, các chuyên gia giỏi thường có xu hướng làm việc tại bệnh viện của cơ sở giáo dục, nơi mà họ có thể kết hợp khám chữa bệnh với đào tạo sau đại học và nghiên cứu khoa học. Việc hợp tác quốc tế, mời chuyên gia nước ngoài cũng thuận lợi hơn so với các bệnh viện quy mô nhỏ, hoạt động độc lập.
Thầy Nho bày tỏ, nếu được chuyển giao hợp lý, các trung tâm y tế, bệnh viện hoạt động kém hiệu quả hoàn toàn có thể “hồi sinh” với vai trò mới, đó là trở thành bệnh viện thực hành, nơi mỗi giường bệnh vừa phục vụ điều trị, vừa là môi trường đào tạo trực tiếp cho sinh viên. So với phương án sáp nhập rồi thu hẹp dần, cách tiếp cận này mang lại lợi ích đồng thời cho cả bệnh viện và nhà trường.
Giải “cơn khát” bệnh viện thực hành cho trường y dược
Cùng chia sẻ, Tiến sĩ, Bác sĩ Phạm Văn Tân – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội cho rằng, cần tiếp cận vấn đề trên cơ sở thực tiễn cụ thể của từng địa phương, từng cơ sở y tế và cơ sở đào tạo.
“Chúng ta thừa nhận nhu cầu về bệnh viện thực hành là có thật và rất cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe. Đây cũng là lý do khiến phương án chuyển đổi các trung tâm y tế, bệnh viện hoạt động chưa hiệu quả trở thành bệnh viện thực hành được xem là một cơ hội để nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống.
Thực tế ngay cả những trường đã có cơ sở thực hành trực thuộc vẫn tiếp tục thuê thêm bệnh viện để cho sinh viên thực hành, do quy mô tiếp nhận của bệnh viện thực hành trực thuộc có phần hạn chế. Một cơ sở y tế với vài trăm giường bệnh chỉ đáp ứng được cho một số lượng sinh viên nhất định, nên buộc trường phải phân tán hoạt động đào tạo ở nhiều nơi, ảnh hưởng đến tính đồng bộ và chất lượng”, thầy Tân chia sẻ.
Thầy Tân cũng cho rằng, mỗi trung tâm y tế, bệnh viện công được hình thành đều là kết quả của một quá trình đầu tư rất lớn từ Nhà nước và xã hội. Do vậy, trong quá trình sắp xếp lại hệ thống, nếu chỉ tiếp cận từ góc độ hành chính, tiến hành sáp nhập rồi dần loại bỏ các cơ sở quy mô nhỏ hoặc hoạt động chưa hiệu quả, thì vô hình trung sẽ làm thất thoát những tài sản công có giá trị, bao gồm hạ tầng, trang thiết bị, quỹ đất, cũng như năng lực cung ứng dịch vụ y tế đã được tích lũy.
Trong khi đó, thực tế hiện nay hầu hết cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe lại đang thiếu bệnh viện thực hành trực thuộc, khiến cho việc đào tạo lâm sàng buộc phải phụ thuộc vào các đơn vị bên ngoài, dẫn đến hạn chế về tính chủ động, thiếu chiều sâu và khó kiểm soát chất lượng đầu ra. Ngay cả những trường đã có cơ sở thực hành vẫn phải tiếp tục hợp tác, “thuê” thêm bệnh viện do quy mô tiếp nhận có hạn. Mỗi cơ sở chỉ đáp ứng được một số lượng sinh viên nhất định, dẫn đến việc đào tạo bị phân tán, thiếu tính đồng bộ. Thực tế này tạo ra một nghịch lý, nơi có cơ sở vật chất thì chưa được khai thác đúng vai trò, còn nơi cần cho đào tạo lại không có đủ điều kiện.
“Việc sáp nhập đơn thuần các trung tâm y tế, bệnh viện yếu kém chưa phải là phương án tối ưu. Ngược lại, nếu có thể chuyển đổi phù hợp những cơ sở này thành bệnh viện thực hành trực thuộc trường y dược, thì sẽ tận dụng được nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả hơn. Khi đó, các bệnh viện vốn hoạt động cầm chừng có thể được “kích hoạt” với chức năng kép là vừa khám chữa bệnh, vừa đào tạo và nghiên cứu, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và hỗ trợ giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực”, thầy Tân chia sẻ.
Tất nhiên, việc chuyển đổi cần gắn với năng lực thực tế của cơ sở đào tạo. Bởi, theo thầy Tân, không phải trường nào cũng đủ điều kiện để tiếp nhận và vận hành một bệnh viện. Việc này phải đi kèm với nguyên tắc rõ ràng, đánh giá đúng năng lực từng bên và có phương án tổ chức phù hợp, để vừa tận dụng được nguồn lực hiện có, vừa bảo đảm chất lượng đào tạo và khám chữa bệnh.
Cùng nhấn mạnh tính tất yếu của bệnh viện thực hành trực thuộc trường đào tạo khối ngành sức khỏe, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tiến – Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y Dược Thái Bình cho biết, hiện nay nhiều cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe vẫn chưa có bệnh viện thực hành trực thuộc. Trong khi đó, nguyên tắc đào tạo khối ngành sức khỏe là cần có bệnh viện thực hành trực thuộc; để chúng ta tận dụng đội ngũ cán bộ y tế, đồng thời bảo đảm quá trình đào tạo gắn liền với lâm sàng.
Thực tế, việc trường đào tạo khối ngành sức khỏe có cơ sở thực hành trực thuộc là đáp ứng yêu cầu về mặt pháp lý tại Điều 10 Nghị định số 111/2017/NĐ-CP ngày 05/10/2017 của Chính phủ quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe.
Cụ thể, Khoản 2, Điều 10, Nghị định 111/2017/NĐ-CP quy định, cơ sở giáo dục có ngành, chuyên ngành đào tạo về khám bệnh, chữa bệnh phải ký hợp đồng hoặc có 01 cơ sở thực hành là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện ít nhất 50% thời lượng của chương trình thực hành.
Thầy Tiến cũng cho rằng, việc chuyển đổi các bệnh viện về trực thuộc trường đào tạo khối ngành sức khỏe là một trong những phương án cần được xem xét trên cơ sở điều kiện cụ thể của từng đơn vị.
Nhu cầu gắn đào tạo với thực tiễn trong lĩnh vực y tế là yêu cầu bắt buộc. Và việc chuyển đổi trung tâm y tế, bệnh viện hoạt động kém hiệu quả trở thành bệnh viện thực hành trực thuộc trường đào tạo khối ngành sức khỏe được xem là giải pháp tận dụng nguồn lực, mang tính chiến lược, góp phần giải bài toán nhân lực và nâng cao chất lượng hệ thống y tế theo hướng bền vững.